PDA

View Full Version : cho em hỏi về Physical Layer, DataLink Layer, Network Layer



chipheotk
11-03-2004, 09:50 PM
Xin các huynh chỉ giùm em về 3 lớp dưới của IP network, cụ thể nó là cái gì vậy?

tu123
11-03-2004, 10:03 PM
Xin các huynh chỉ giùm em về 3 lớp dưới của IP network, cụ thể nó là cái gì vậy?

OSI là những vấn đề cơ bản bạn nên tham khảo các giáo trình mạng nó đều trình bày.

Application
Presentation
Session
Transport
Network
Datalink
Physical

danguyennhi
13-03-2004, 10:15 PM
Hi

Lớp physical định nghĩa các vấn đề liên quan đến phần cứng, bits, cables, transceivers

Lớp datalink quản lý việc truyền frame, định dạng frame, chuyên chở các packets ở lớp network bên trên, kiểm soát lỗi trên đường truyền

Lớp network làm nhiệm vụ tìm đường và chuyển các gói tin.

wannabe
14-03-2004, 08:48 PM
Mình xin giải thích thêm về 3 layers này (Physical, Datalink, Network)

Một điều bạn nên chú ý là mục đích của OSI model chia làm 7 layers là vì họ muốn các layers hoạt động độc lập (independent) không cần biết các layer phía dưới là gì.

1. Physical layer: giả sử lúc trước bạn dùng FDDI ring, giờ bạn muốn migrate qua dùng CAT5 cables, bạn không muốn phải đổi tất cả cái network của bạn (reconfig routers, switches, PCs). Nhờ vào Physical layer, Datalink layer sẽ không biết (hay không quan tâm) đến loại cable bạn dùng để connect cái network devices.

2. Datalink layer: đối với các kỹ sư QTM (network admin engineers), cái layer này chỉ cần biết MAC address mà thôi. Bởi vậy đa số các switches trên thị trường là layer-2 switches vì nó hoạt động (switch packets) dựa vào MAC address. Chỉ xin lưu ý là cisco 2950 switches cũng là layer 2 switch (dựa vào MAC address) mặc dù bạn có thể configure IP access-list giống như bạn có thê? làm trên routers.

3. Network layer: layer này hoạt động dựa trên IP addresses. Routers nằm trong cái layer nàỵ

: )

pisces
27-03-2004, 08:40 AM
một số ngưòi sau khi đa nghiên cứu sâu về router đều nhận thấy router thuộc ... layer 2 , thậm chí ở vài layer khác nữa , chỗ nào cũng có nó ,... nhưng bây giờ thì default mình nên biết nó chỉ là layer 3 thôi à , ai biết tại sao cũng có thể coi router la layer 2 xin chỉ giáo

Saigon,Vietnam
27-03-2004, 01:10 PM
>sau khi đa nghiên cứu sâu về router đều nhận thấy router thuộc ... layer 2

Dến nước này thì dành phài giải nghệ thôi:
Một helpdesk có hai năm kinh nghiệm install & configure NICs trên workstations tuyên bố xanh dờn: vì anh ta configures IP addresses cho các NICs hằng ngày nên bản thân chúng phải là layer3 devices!

pisces,

Workstation của bạn dang sử dụng IE là layer7 service.
Hoặc giả, bạn download một file from somewhere else from Internet into your desktop.
Các processes này dều lần lượt di qua layers 7-1 và ngược lại!
PC systems của bạn là what layer device?

Nếu chỉ vì các LAN interfaces cùa routers có BIAs, layer2 encapsulation functions mà gán cho routers ---> layer2 device thì thật là "oan ơi ông dịa".
Các router interfaces cũng support các IEEE standards như signaling, clocking, cabling, connector...
Không biết dã có nhà nghiên-cứu nào gọi routers là layer1 devices chưa, xin cho biết!

Cheers,

Mikami
28-03-2004, 11:00 AM
>sau khi đa nghiên cứu sâu về router đều nhận thấy router thuộc ... layer 2

Dến nước này thì dành phài giải nghệ thôi:
Một helpdesk có hai năm kinh nghiệm install & configure NICs trên workstations tuyên bố xanh dờn: vì anh ta configures IP addresses cho các NICs hằng ngày nên bản thân chúng phải là layer3 devices!

pisces,

Workstation của bạn dang sử dụng IE là layer7 service.
Hoặc giả, bạn download một file from somewhere else from Internet into your desktop.
Các processes này dều lần lượt di qua layers 7-1 và ngược lại!
PC systems của bạn là what layer device?

Nếu chỉ vì các LAN interfaces cùa routers có BIAs, layer2 encapsulation functions mà gán cho routers ---> layer2 device thì thật là "oan ơi ông dịa".
Các router interfaces cũng support các IEEE standards như signaling, clocking, cabling, connector...
Không biết dã có nhà nghiên-cứu nào gọi routers là layer1 devices chưa, xin cho biết!

Cheers,

Nếu cứ theo các bạn nói thì router ở tất cả các lớp ah :wink:

Chúng ta nên way lại những khái niệm và định nghĩa cơ bản về Router.

Router dùng để làm gì? --> Router dùng để routing ( chữ router cũng từ đó muh ra mà). Và routing nằm là công việc ở layer 3. Of course, trong wá trình routing của mình, router cũng thực hiện các process trung gian để phục vụ cho việc routing nên mới có operation khác được thực hiện trong router vì đúng là router thì kô thể routing kô muh kô có các operation đó được. Hơn thế nữa, 1 device nằm ở Layer 3, thí chắc chắn fải hoạt động từ Layer trở xuống ( include 3,2,1) vì đó là nguyên lý cơ bản của OSI Model, kô thể có chuyện nhảy bước được.

Basically, Router ở layer 3.

Chúc vui

Saigon,Vietnam
28-03-2004, 12:26 PM
"Chúng ta nên way lại những khái niệm và định nghĩa cơ bản về Router.

Router dùng để làm gì? --> Router dùng để routing ( chữ router cũng từ đó muh ra mà). Và routing nằm là công việc ở layer 3. Of course, trong wá trình routing của mình, router cũng thực hiện các process trung gian để phục vụ cho việc routing nên mới có operation khác được thực hiện trong router vì đúng là router thì kô thể routing kô muh kô có các operation đó được. Hơn thế nữa, 1 device nằm ở Layer 3, thí chắc chắn fải hoạt động từ Layer trở xuống ( include 3,2,1) vì đó là nguyên lý cơ bản của OSI Model, kô thể có chuyện nhảy bước được.

Basically, Router ở layer 3."

Thanks Mikami, bạn nói rõ hơn những diều SGVN dã trình bày (ít nhất cho Mikami-yourself)!.
Hoàn toàn dồng ý với M (từ bài trước):
Về mặt kỹ thuật, cho dù routers có supports FTP, HTTP, DHCP server functions; thì chúng vẫn chỉ là layer3 devices mà thôi!

SGVN dịnh giải nghệ (instructor) không dạy các courses CCDP/NP nữa khi nghe (dọc) dược là các "nhà nghiên-cứu" phán cho rằng routers là layer2 devices.
Vì nếu các "nhà nghiên-cứu" dày công phán dúng mà SGVN lại nói routers là layer3 devices thì học-viên sẽ duổi SGVN ra khởi lớp mà thôi!

Giải nghệ xong, SGVN cũng vẫn còn lo xa nên dã hỏi thêm: có "nhà nghiên-cứu" nào bất dồng ý kiến với dồng-nghiệp (cũng nghiên-cứu) mà cho rằng routers là layer1 devices?
My example (joke) was: nhà nghiên-cứu ở trình dộ helpdesk (installer) phán cho NICs là layer3 devices(?)

Mikami mới sang Mỹ không lâu? Ráng dừng dể quên tiếng mẹ dẻ dù bận rộn với bài vở. Một phần của my nick là VN.

Chúc vui,

Mikami
28-03-2004, 02:33 PM
Cám ơn anh SaiGon,Vietnam đã nhắc nhở :wink:.

Em có 1 số lầm lẫn khi đọc bài viết của anh( ý em nói là em hiểu sai ý của anh khi anh đưa ra 1 câ chuyện joke :wink:) nên mới đưa ra ví dụ trên.

Anyway, nice to meet u :wink:

02-04-2004, 02:15 AM
Chủ đề thì không có gì đặc biệt, nhưng mà người trả lời thì hay quá chừng. Anh SGVN và Mika cho em học hỏi với nhé!

dangquangminh
29-04-2004, 02:03 AM
Xin các huynh chỉ giùm em về 3 lớp dưới của IP network, cụ thể nó là cái gì vậy?

Một số protocol ở 3 layer thấp nhất của mô hình OSI. Hy vọng rằng bạn đã ít nhất nghe nói đến những protocol này.

Chúc vui vẻ,

http://www.vnpro.org/forum/download.php?id=583

Jindo
05-05-2004, 10:07 AM
Các bạn ơi mình mới đọc CCNA mà sao thấy khó hiểu về session layer quá, các bạn giải thích dùm mình xem cái tầng này làm nhiệm vụ gì thế?
thanks.

nguyenthanhtung32
05-05-2004, 12:40 PM
Bạn cứ hiểu đơn giản là, session layer có nhiệm vụ khởi tạo, duy trì các kết nối và huỷ các kết nối. ví dụ như: bản dùng ftp thì session sẽ tạo cho bạn một phiên làm việc, quan tâm tới kết nối này để biết được nó còn connect hay đả disconnect rồi.

Jindo
05-05-2004, 04:17 PM
Mình tưởng nó chỉ chịu trách nhiệm thiết lập, quản lý và huỷ phiên làm việc giữa các thực thể của Presentation layer

it_email
05-05-2004, 05:09 PM
1.Tầng application thiết lập một chương trình.
2.Chương trình này được mã hóa tại tầng presentation.
3.Tại session layer sẽ thiết lập một phiên làm việc.
.... xuống các tầng tiếp theo...
Khi bạn ngưng một phiên làm việc thì session layer sẽ làm nhiệm vụ này.
Phiên làm việc hay là các thực thể của presentation layer đều là một,vì "thực thể " này bắt đầu một quá trình gửi và nhận trong mô hình OSI.

admin
05-05-2004, 11:54 PM
Jindo xem thêm một ví dụ của klepski:
http://vnpro.org/forum/viewtopic.php?t=3979

Cám ơn,

quan-nm
02-07-2004, 03:20 PM
Các bạn có thể chỉ cho mình hiểu rõ công dụng 7 tầng của mô hình OSI được không
Minh cảm ơn nhiều.

sinhvienngheo
03-07-2004, 08:01 PM
hi

Chức năng lớp 1:

Lớp 1 bao gồm những chuẩn mô tả thứ tự bit, tốc độ truyền bit, kiểu connector và các đặc tả về điện.


Ví dụ;

Ký tự A được truyền như 00001010.

Ví dụ 2: Các chuẩn vật lý là:

• RS-232
• V.24
• V.35
• RJ-45
• RJ-12

Layer 2: The Data Link Layer

Lớp 2 tập trung vào việc truyền dữ liệu tin cậy trên bất cứ kiểu đường truyền nào. Các chức năng khác của layer 2 là kiểm soát dòng, thông báo lỗi. Thông tin ở lớp này thường được gọi là frame.

Ủy ban IEEE đã làm phức tạp hóa vấn đề bằng cách chia lớp datalink ra thành những lớp con: LLC và MAC.

xxbatcocxx
03-07-2004, 08:58 PM
kahha
chao ban
mo hinh OSI chia thanh 7 lop
lop physical : dung de mo ta in hieu duong trueyn , ma hoa tin hieu nhi phan thanh tin hieu dien, va dinh dang kieu ket noi ...

lop data link : xac dinh ket noi dia chi vat li den tung may , MAC , dinh dang cac chuan truyen tin hieu ...IEEE 802.3, IEEE802.2 ...

lop network : dinh dang cac dia chi luan ly, dinh tuyen thong qua cac soure va des de gui du lieu . cac du lieu la cac packet..

lop transport : lop van chuyen du lieu , truyen tin cay hay ko tinc ay , TCP,UDP

session : dinh dang cac phien lam viec

lop pre..: dinh dang cho cac kieu du lieu , vi du nhu du lieu la kieu text , hinh anh , ...

appl : lop kien ket voi cac dich vu nhu HTTP, WEB...

danguyennhi
04-07-2004, 08:01 PM
Lớp network:

Lớp network xác định đường đi tốt nhất đến 1 đích. Các vấn đề như định vị địa chỉ, phân mãnh packet, routing...sẽ diễn ra ở lớp network.

Các thông được xử lý ở layer này thường được gọi là packet. Các giao thức của lớp network bao gồm:

• Internet Protocol (IP)
• Open Shortest Path First (OSPF)
• Cisco’s EIGRP routing protocol

Các routing protocol như OSPF, EIGRP và BGP...cung cấp các thông tin yêu cầu để xác định topology (đồ hình) của hệ thống liên mạng và giúp xác định đường đi tốt nhất tới một địa chỉ network ở xa.


Một routed protocol là một protocol được chuyên chở bởi routing protocol. Ví dụ IP là một routed protocols.

govap
04-07-2004, 09:05 PM
Toàn bộ lãnh vự truyền thông dữ liệu bao trùm một phạm vi rất rộng . Nó bao gồm các đường nối điện thoại,các cáp riêng,các vệ tinh và các mạng cục bộ,mạng toàn cục dành cho các cơ quan nhà máy...

Để mạng máy tính đạt khả năng làm việc tối đa,trong lỗ lực chuẩn hoá việc này .Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế( International Standar Organnization-ISO)và CCITT đã cùng phối hợp với nhau để phát triển chuẩn kết nối các hệ thống mở OSI, để truyền thông dữ liệu.Vào năm 1984 họ đã đưa ra và chấp nhận mô hình 7 tầng chuẩn dành cho mạng cục bộ LAN.Mô hình này còn được gọi là hệ thống kết nối mở.

mỗi tầng đảm bảo một chức năng riêng biệt,chức năng của các tầng thấp nhất là bao gồm các việc chuẩn bỉ cho các tầng cao hơn hoàn thành chức năng của mình.Một mạng hoàn chỉnh hoạt động chính xác với mọi chức năng của mình phải đảm bảo có đủ 7 tầng cấu trúc từ thấp đến cao,vì đây là một mô hình chuẩn cho việc hình thành mạng cục bộ LAN.

Mô hình bao gồm các tầng là:

Tầng 7: Tầng ứng dụng - (Application)

Tầng 6: Tầng tiếp nhận- (Presentation)

Tầng 5: Tầng các phiên làm việc- (session)

Tầng 4: Tầng truyền tải-(Transport)

Tầng 3: Tầng mạng-(Network)

Tầng 2: Tầng liên kết dữ liệu-(Data Link)

Tầng 1:Tầng vật lý-(Physical)

Mỗi tầng khác nhau luôn biết các tầng kề cận sử dụng phương thức nào để truyền dữ liệu qua lại.Sự điều khiển truyền còn phụ thuộc đang được gửi hay nhận qua các tầng lên hoặc xuống.Khi gửi, mỗi tầng khác nhau sẽ đảm nhận thực hiện chức năng riệng cảu tầng tầng,Và dữ liệu sẽ được gửi từ tầng cao nhất xuống tầng thấp nhất,còn khi nhận dữ liệu ,nó sẽ ngược lại với quá trình gửi trên.

- 2 tầng thấp nhất là tầng 1 và tầng 2, luôn luôn liên quan đến phần cứng( dây dẫn,điện thế,mạch tích hợp..), Còn lại các tầng trên là liên quan tới phần mềm.Các tầng thấp hơn thì nhiều nhất là chi tiết cụ thể của các thẻ mạng và các cáp mạng.Các tầng cao hơn liên quan tới chương trình,các tệp hoàn thành cho người sử dụng.

* Tầng 1: Tầng Vật lý - ( Physical )

- Tầng này thực hiện chức năng liên kết các phần tử của mạng,thành 1 hệ thống.ở mức này thủ tục đảm bảo cho hệ thống mạng thông mạch để các đường truyền có thể truyền dữ liệu.

* Tầng 2: Tầng liên Kết Dữ Liệu - ( Data Link )

- Nhiệm vụ của tầng này là chuyển đổi thông tin dạng chuỗi các bít ở tầng mạngthành những đoạn thông tin gọi là Frame.Vì chung hệ thống mạng cục bộ hệ thống dây cáp sẽ được nhiều người dùng chung.trước khi thông tin được đưa tới tầng này,nó đã được phân chia thành các đoạn 500 hoặc 1000 byte.Sau đó mức này sẽ chuyển thông tin hay dữ liệu thành các frame hay thành các gói. bằng cách thê, vào tiêu đề có kèm theo địa chỉ đích và phần đuôi có kèm theo các mã kiểm tra lỗi.Tại đầu nhận tin tầng này sẽ liểm tra lại các gói tin xem có lỗi nào hay không.ở tầng này dùng các giao thức truyền tải dữ liệu như dùng thẻ bài,dùng kỹ thuật CDMA/CD...Tóm lại tầng này tổ chức thông tin theo những thông tin liên quan đến tập tin đó và sử lý chúng.

* TẦng 3: Tầng Mạng - ( Network )

- Tầng này quan tâm nhất tới các địa chỉ và việc tạo đường dẫn nhằm đảm bảo thông tin giữa các mạng con trong mọtt mạng lớn.Trong lớp này các gói dữ liệu có thể truyền đi theo các tuyến đường khác nhau để tới đích.Các chíp giao thức ở tầng thấp hơn cũng bổ sung các địa chỉ nhưng cũng có thể co các mức độ khác nhau.Do vậy ở tầng này có nhiệm vụ chỉ dẫn đường nào được phép truyền dữ liệu và đường nào không được phép.

* Tầng 4: Tầng Truyền Tải - ( Transport )

- Nhiệm vụ của tầng này là xử lý thông tin để chuyển tiếp các chức năng tới tầng trên nó ( tầng 5 )và tầng dưới nó ( tầng 3 )và ngược lại.Đây là tầng quan trọng nhất đối với mạng cục bộ,tầng này theo dõi việc nhận và gửi dữ liệu.Các tầng thấp hơn có thể xử lý kích cỡ dữ liệu,nó có thể ngắt dữ liệu cục bộ thành các đoạn trước khi gửi và đặt các đoạn được nhận trở lại chỗ cũ cùng với nhau vào các thông báo hoàn chỉnh.

* Tầng 5 : Phiên làm việc - ( Sesion )
-Tầng này cho phép người sử dụng tiêp xúc với nhau qua mạng.Tầng này làm nhiệm vụ quản lý các cuộc hội thoại,khi các cuộc hội thoại được thành lập.Vì vậy tầng này quan tâm tới các đoạn dữ liệu lớn và tính toàn vẹn của chúng.nó có thể lựa chọn giữa dịch vụ " mạch ảo" và " gói dữ liệu" tuỳ chọn do các tầng thấp hơn cung cấp.
* Tầng 6: Tầng tiếp nhận - ( Presentation )
- Trên mạng cục tầng này cho phép tiếp nhận dữ liệu chính qyi vào mạng===>nó có khả năng tiếp nhận dữ liệu,biến đổi các ký tự,các ký hiệu của bảng mã ASCII hay các mã khác thành một kiểu mã thống nhất,nhớ đó mà các loại máy khác kiểu trong cùng một mạng có thể cùng truy nhập được vào hệ thống.
* Tầng 7: Các ứng dụng - ( Application )
- Tầng này giúp cho người sử dụng giao tiếp được với máy.Nên tầng này cung cấp tất cả các dịch vụ cho chương trình người sử dụng.cung cấp tất cả các yêu cầu phục vụ cho người sử dụng như truy timg các tệp,đọc bàn phím và hiện thị các mục lên màn hình.tầng này nhằm đảm bảo tự động hoá quá trình thông tin,giúp cho việc khai thác tài nguyên mạng tốt hơn.
+++++>> Vậy hệ thống kết nối mở với chuẩn OSIlà một hệt thống cho phép truyền thông tin với các hệ thống khác nhau và sử dụng những giao thức khác nhau đối với mạng cục bộ LAN.

(from HVA)

govap
04-07-2004, 09:15 PM
Trong quá khứ, vào khong thập niên 80,nhu cầu sử dụng mạng mạng bùng nổ trên thế giới c về số lợng lẫn quy mô của mạng. Nhng mỗi mạng lại đợc thiết kế và phát triển của một nhà sn xuất khác nhau c về phần cứng lẫn phần mềm dẫn đến tình trạng các mạng không tng thích với nhau và các mạng do các nhà sn xuất khác nhau thì không liên lạc đợc với nhau. Để giải quyết vấn đề này, tổ chức ISO - International Organization for Standardization được nghiên cứu các mô hình mạng khác nhau và vào năm 1984 đa ra mô hình tham khảo OSI giúp cho các nhà sản xuất khác nhau có thể dựa vào đó để sản xuất ra các thiết bị ( phần cứng cũng như phần mềm) có thể liên lạc và làm việc đợc với nhau.
ISO được đa ra mô hình 7 lớp (layers, ) cho mạng, gọi là mô hình tham kho OSI (Open System Interconnection Reference Model).

• Lớp 1: Lớp Physical (Physical layer)

Lớp nay đưa ra các tiêu chuẩn kỹ thuật về điện, các chức năng để tạo thành và duy trì kết nối vật lý trong hệ thống. Các đặc điểm cụ thể của lớp này là : mức điện áp, thời gian chuyển mức điện áp, tốc độ truyền vật lý, khong cách tối đa, các đầu nối....

Thực chất của lớp này là thực hiện việc kết nối các phần tử của mạng thành một hệ thống bằng các kết nối vật lý, ở mức này sẽ có các thủ tục đm bo cho các yêu cầu hoạt động nhằm tạo ra các đờng truyền vật lý cho các chuỗi bit thông tin.

• Lớp 2: Lớp Data link (Data Link Layer)

Lớp kết nối dữ liệu cung cấp kh năng truyền dữ liệu thông qua một kết nối vật lý. Lớp này cung cấp các thông tin về : địa chỉ vật lý, cấu trúc mạng, phng thức truy cập các kết nối vật lý, thông báo lỗi và qun lý lu thông trên mạng.

• Mức 3: Lớp Network (Network Layer)

Lớp mạng cung cấp kh năng kết nối và lựa chọn đờng đi giữa hai trạm làm việc có thể đợc đặt ở hai mạng khác nhau. Trong lớp mạng các gói dữ liệu có thể truyền đi theo từng đờng khác nhau để tới đích. Do vậy, ở mức này phi chỉ ra đợc con đờng nào dữ liệu có thể đi và con đờng nào bị cấm tại thời điểm đó.

• Mức 4: Lớp Transport (Transport Layer)

Lớp transport chia nhỏ dữ liệu từ trạm phát và phục hồi lại thành dữ liệu nh ban đầu tại trạm thu và quyết định cách xử lý của mạng đối với các lỗi phát sinh khi truyền dữ liệu. Lớp này nhận các thông tin từ lớp tiếp xúc, phân chia thành các đơn vị dữ liệu nhỏ hơn và chuyển chúng tới lớp mạng. Nó có nhiệm vụ bảo đảm độ tin cậy của việc liên lạc giữa hai máy , thiết lập, bảo trì và ngắt kết nối của các mạch ảo.


• Mức 5: Lớp Session (Session Layer)

Lớp Session có nhiệm vụ thiết lập, quản lý và kết thúc một phiên làm việc giữa hai máy. Lớp này cung cấp dịch vụ cho lớp Presentation. Nó đồng bộ hoá quá trình liên lạc giữa hai máy và quản lý việc trao đổi dữ liệu.

• Mức 6: Lớp Presentation (Presentation Layer)

Lớp Presentation đảm bảo lớp Application của một máy có thể đọc đúng các thông tin mà một máy khác gửi tới. Nó có nhiệm vụ định dạng lại dữ liệu đúng theo yêu cầu của ứng dụng ở lớp trên. Các chức năng nh nén dữ liệu, mã hoá.. thuộc về lớp này.

• Mức 7: Lớp Application (Application Layer)

Lớp ứng dụng tương tác trực tiếp với ngời sử dụng và nó cung cấp các dịch vụ mạng cho các ứng dụng của người sử dụng nhưng không cung cấp dịch vụ cho các lớp khác. Lớp này thiết lập khả năng liên lạc giữa những người sử dụng, đồng bộ và thiết lập các quy trình xử lý lỗi và đảm bảo tính toàn vẹn của dữ liệu.

(from quantrimang.com)

quan-nm
05-07-2004, 10:20 AM
Hay quá.
Cảm ơn các bạn nhé, mình thấy bài của bạn "sinhvienngheo","xxbatcocxx","danguyennhi" rất là dễ hiểu và thực tế.

qtrang2005
05-07-2004, 04:37 PM
Chào các anh chị
Trong họ cấu trúc TCP/IP có 4 lớp
Application, Transport, Internet, Network Access, em chưa hiểu , có thể giải thích cho em được không.
Em cảm ơn

hoanglenhan
06-07-2004, 02:58 PM
Ngoài các chức năng trên của session , session layer còn có nhiệm vụ phân biệt dữ liệu của phiên làm việc nào . Ví dụ , bạn đang chạy Yahoo Messenger , ICQ cùng một lúc . Các Application này không chứa trong Application Layer của OSI mà nó sử dụng Service của Layer này để giao tiếp . Session layer có nhiệm vụ mã hoá , giải mã dữ liệu của các ứng dụng khác nhau , và điều quan trọng hơn là nó phân biệt được dữ liệu này là của ứng dụng nào để điều phối các phiên làm việc cho đúng !

hoangminh
06-07-2004, 04:49 PM
Mình xin nói chỗ Tranport của TCP/IP. Tại đây các giao thức TCP, UDP sẽ phân định các ứng dụng riêng rẽ theo từng Port (Vdụ : FTP-21, Telnet-23, TFTP-69,..) nhờ vậy nhiều ứng dụng mới có thể cùng hoạt động được.

HuuHoa
19-02-2005, 12:58 PM
Vào những năm 1980, tổ chức ISO của Châu Âu đã bắt đầu phát triển mô hình OSI. OSI có hai thành phần chính: mô hình trừu tượng của mạng và tập hợp một số giao thức cụ thể. Mô hình này cuối cùng đã phát triển ra thành Internet, trong đó các giao thức Internet tuân thủ.

Lớp vật lý liên quan đến việc truyền các bit thô trên một kênh thông tin. Các vấn đề thiết kế liên quan đến các chi tiết như simplex, half duplex, full duplex, các chi tiết về cơ và điện, các mức điện thế , chiều dài cáp....


Chức năng chủ yếu của lớp datalink là truyền các frame trên các kết nối vật lý, bao gồm các cơ chế tích hợp và khôi phục lỗi vào bên trong dataframe. Tác vụ này được hoàn thành bắng cách phân mảnh dữ liệu ra thành các frame cơ bản và truyền frame một cách tuần tự. Chức năng của lớp datalink nửa là sử dụng các mẫu bit đặc biệt cho việc truyền và nhận các frame. Các chức năng khác của lớp này là kiểm soát lỗi, điều chỉnh dòng và quản lý lỗi.

Nhiệm vụ lớp network là thiết lập đường đi giữa hai máy tính và mang dữ liệu trong những gói tin gọi là packet.

WHITEEAGLE
15-06-2005, 12:47 PM
mình kô hiểu rõ lắm về session layer,nhiệm vụ nó là thíêt lập fiên làm việc,nhưng fiên làm việc này với cái gì,máy tính hay ứng dụng??mình hiểu hết 6 lớp nhưng sao vẫn confuse cái lớp session này hoài.giúp mình với!

ntemt
15-06-2005, 01:46 PM
Bạn đọc kĩ lại các bài thảo luận về phần này đi.

WHITEEAGLE
15-06-2005, 03:21 PM
* Tầng 5 : Phiên làm việc - ( Sesion )
-Tầng này cho phép người sử dụng tiêp xúc với nhau qua mạng.Tầng này làm nhiệm vụ quản lý các cuộc hội thoại,khi các cuộc hội thoại được thành lập.Vì vậy tầng này quan tâm tới các đoạn dữ liệu lớn và tính toàn vẹn của chúng.nó có thể lựa chọn giữa dịch vụ " mạch ảo" và " gói dữ liệu" tuỳ chọn do các tầng thấp hơn cung cấp.

mình đã xem rồi,nhưng ý mình là nó chưa di xuống tới tấng dưới thì làm sao nó xác định được máy nào để mà thiết lập??Giống như gọi điện thoại đi,mình phải biết số điện thoại người ta (layer1,2,3,4) thì mới "thiết lập" cuộc nói chuyện được chứ??

thanh3d
15-06-2005, 03:44 PM
theo mình nghĩ thì lớp sesion cung cấp các dịch vụ cho các Presentation , nó có chức năng là tạo các phiên làm việc là giữ chúng luôn luôn kết nối.
Ví dụ trong lập trình Window bạn tạo các socket trong đó để liên hệ bên phía kia để thiết lập các kết nối cùng phiên.
ví dụ trong khi duyệt Web thì ở server sẽ tạo cho bạn một chuỗi ID là phiên lam2 việc , fia' client sẽ có chuỗi ID đó , đó chính là phiên làm việc , khi ở trình server có cùng chuỗi ID cùng với trình client thì phiên làm việc đạng thực thi , nếu bạn bị disconnect thì ID phiên đó sẽ không còn tác dụng nữa /.
Khi nếu nối lại thì bạn sẽ có một ID mới.

WHITEEAGLE
17-06-2005, 01:28 AM
cám ơn nha,có lẽ hiểu chút chút rùi.

lv_cuongvt
17-06-2005, 03:10 PM
Phisical: liên quan đến các bit, các tín hiệu trên đường truyền
Datalink: Thì thông thường là để kiểm soát luồng, kiểm tra lổi, điều khiển cửa sổ, điều khiển địa chỉ.
Network: Định tuyến các gói.
Một lớp bên dưới thì cung cấp dịch vụ cho lớp ở bên trên.

minhphuoc275
17-06-2005, 06:24 PM
theo mình, 1 thiết bị làm việc ở lớp 3 là làm việc tới lớp 3, nghĩa là thiết bị đó có thể làm việc ở lớp 1 và 2 (physical, datalink). ở trên mình thấy hình như các bạn nhầm lẫn là thiết bị làm việc ở lớp 3 chỉ có ở lớp 3 mà thôi

WHITEEAGLE
18-06-2005, 02:20 AM
bạn minhphuoc275 có thể nói rõ hơn không? Nói như bạn kô lẽ Router đóng Packet xong đóng luôn thành frame rùi gửi đi luôn á?Tui mới đụng vô CCNA nên lơ mơ lắm!

minhphuoc275
18-06-2005, 10:12 AM
mình nói 1 quy trình đi đơn giản nhé:
2 thiết bị mạng trao đổi với nhau qua router, thì nó phải đi từ lớp 7 -> lớp 6... lớp 1 rồi truyền ra ngòai qua môi trường truyện Cách thức để truyền 1 gói tin đi là từ lớp trên cùng application xuống presentation, gói tin sẽ được bọc 1 header, rồi từ lớp này xuống session phải bọc thêm header nữa cho tới lớp physical có nhiệm vụ truyền tải gói tin đi Gói tin khi tới được router, router sẽ nhận được từ lớp physical, gửi lên datalink, bóc tách gói tin cho đến lớp 3 đọc được ip, router sẽ route tới máy destination, bằng cách đóng gói tại lớp 3 này tùy theo giao thức tcp hay udp, rồi truyền xuống dưới đóng gói MAC (tôi không rõ MAC này của thiết bị nào --> nhưng có thể là của router), qua lớp physical truyền tới máy đích và máy đích nhận gói tin và truyền lên từng lớp bằng cách bóc tách gói tin và nhận được tại lớp application Vì lâu quá không đụng vào có thể có vài chỗ không chắc chắn lắm, nhưng cũng có thể nói router làm việc đến lớp 3 là vậy

WHITEEAGLE
18-06-2005, 12:18 PM
nói vậy thì rõ ràng lớp nào làm nhiệm vụ lớp đó để fục vụ chuyển gói tin thôi, nhưng mỗi lớp đều có liên lạc với 2 lớp kế cận mình chứ đâu fải làm việc cả mấy lớp hết đâu?

cisco336
18-06-2005, 12:34 PM
Trong 1 hệ thống mạng, các thiết bị trao đổi số liệu với nhau dưới dạng các bits (0 và 1) và các bits này được truyền trên đường vật lý như cáp đồng, cáp quang, sóng vô tuyến. Điều đó cũng có nghĩa là các thiết bị tối thiểu phải có được giao tiếp kết nối vật lý. Đây chính là các card mạng (Ethernet, TokenRing) trong các máy chủ / máy trạm, các cổng (Ethernet, TokenRing, ATM, Serial, ISDN,... ) trên các switch / router / firewall,...

Khi đề cập đến lớp làm việc của 1 thiết bị thì tập trung vào công việc chính của thiết bị đó để phân lọai. Việc kết luận "tất cả các thiết bị mạng trên thế giới này đều làm việc ở mức 1" sẽ đúng nếu hiểu theo nghĩa đen (thiết bị có khả năng truyền dữ liệu dưới dạng các bits) nhưng sẽ không mang lại một cái nhìn sâu hơn về khả năng chính của từng lọai thiết bị (router thì chuyên về routing, switch thì chuyên về chuyển mạch,....) cũng như mối tương quan giữa các lọai thiết bị với nhau.

Hy vọng mọi người sẽ đồng ý với quan điểm này.

quynhbk
19-06-2005, 11:52 AM
mình nghĩ cisco336 nói đúng đó
đã là thiết bị điện tử thì cái nào mà chả xử lý các tín hiệu điện, cụ thể là các bít
router chỉ bóc tách header ở tầng data link tại interface, sau đó nó tra khảo IP của packet đó và xử lý packet.
và router chủ yếu xử lý trên IP của packet thôi

WHITEEAGLE
20-06-2005, 02:20 PM
Khi đề cập đến lớp làm việc của 1 thiết bị thì tập trung vào công việc chính của thiết bị đó để phân lọai.

cái này thì đồng ý !

phuclv
07-04-2006, 11:02 AM
Đi trình tự từ dưới lên cho dễ hiểu :
Collision doamain : Vùng các thiết bị mà khi gửi dữ liệu cho 1 thiết bị khác có thể xảy ra collision
Broadcast domain : Vùng 1 thiết bị gửi tín hiệu broadcast cho tất cả thiết bị còn lại

1. Lớp Physical là lớp vật lý. Các thiết bị hoạt động ở lớp này gồm : Cáp mạng ( UTP, STP, cáp đồng trục, V35,...), các đầu nối RJ11, RJ45 ..., Hub, Repeater...
Chức năng chính của lớp này là truyền tín hiệu bit giữa các thiết bị với nhau.
Khi dùng Hub để kết nối các thiết bị mạng lại với nhau thì tất cả các thiết bị dùng chung 1 bus truyền tín hiệu. Tức là khi có 1 máy truyền tín hiệu thì Hub gửi tín hiệu này đến tất cả các thiết bị khác. Điều này dẫn đến khi có nhiều thiết bị cùng gửi data thì sẽ sinh ra collison. Để khắc phục collision Hub dùng giao thức CSMA/CD để tránh collision và giải quyết tranh chấp đường truyền khi có collision. Như vậy khi số lượng thiết bị mạng lớn thì tốc độ truyền data trên Hub sẽ giảm đáng kể vì tất cả cùng dùng chung 1 bus data và sẽ sinh nhiều collision.
2. Để giải quyết vấn đề collision đối với Hub người ta đưa ra thiết bị Bridge và Switch. Switch và Bridge hoạt động ở lớp DataLink (2).
Lớp này định nghĩa ra MAC Address ( là địa chỉ được lưu trong ROM của các thiết bị mạng, địa chỉ này là duy nhất cho từng thiết bị). Khi thiết bị gửi 1 frame thì trong frame này có 2 phần là Destination MAC address và Source MAC address. Khi Swich nhận được bất kỳ frame nào nó sẽ xem phần Source MAC address của frame này có trong bộ nhớ của nó chưa? Nếu chưa có thì nó sẽ lưu lại Source MAC add của frame này tương ứng với port mà frame này được gửi tới. Sau đó nó xem tiếp phần Des mac address, nếu des add đã có trong bộ nhớ và tương ứng với 1 port nào đó thì Switch sẽ chuyển frame đến port đó chứ không chuyển đến tất cả các port như HUB. Trường hợp Des add không có trong bộ nhớ thì Switch mới làm động tác giống như Hub là forward frame này đế tất cả các port còn lại.
Cứ như thế, sau một thời gian hoạt động Switch sẽ tạo được trong bộ nhớ bảng MAC address như sau :

MAC PORT
Mac 1 5
Mac 3 6
Mac 4 1
... .... ....

Vậy vùng Coliision lớn của HUb được chia nhỏ ra đối với Switch --> Switch sẽ ít bị collision khi truyền dữ liệu hơn, thậm chí là không có collision.
Nhưng vùng broadcast của Switch vẫn giống HUb. Vùng Broadcast Domain lớn cũng làm ảnh hưởng đến tốc độ hệ thống.

3. Để ngăn tín hiệu broadcast -- giảm cùng broadcast domain --> người ta đưa ra thiết bị là Router. Router hoạt động ở lớp Network (3) có chức năng chính là ngăn broadcast, dẫn đường cho network segment, lọc data,....

Còn nữa, mai viết tiếp

hqbien
29-04-2006, 02:44 AM
Trong 1 hệ thống mạng, các thiết bị trao đổi số liệu với nhau dưới dạng các bits (0 và 1) và các bits này được truyền trên đường vật lý như cáp đồng, cáp quang, sóng vô tuyến. Điều đó cũng có nghĩa là các thiết bị tối thiểu phải có được giao tiếp kết nối vật lý. Đây chính là các card mạng (Ethernet, TokenRing) trong các máy chủ / máy trạm, các cổng (Ethernet, TokenRing, ATM, Serial, ISDN,... ) trên các switch / router / firewall,...

Khi đề cập đến lớp làm việc của 1 thiết bị thì tập trung vào công việc chính của thiết bị đó để phân lọai. Việc kết luận "tất cả các thiết bị mạng trên thế giới này đều làm việc ở mức 1" sẽ đúng nếu hiểu theo nghĩa đen (thiết bị có khả năng truyền dữ liệu dưới dạng các bits) nhưng sẽ không mang lại một cái nhìn sâu hơn về khả năng chính của từng lọai thiết bị (router thì chuyên về routing, switch thì chuyên về chuyển mạch,....) cũng như mối tương quan giữa các lọai thiết bị với nhau.

Hy vọng mọi người sẽ đồng ý với quan điểm này.


MAC này là MAC nguồn, chính là MAC của router đang thực hiện việc encapsulate cái IP packet thành frame đó. Tôi nói vậy, ko biết có đúng không nữa :) :) Theo tôi, MAC của đích luôn không đổi khi một gói tin đi qua bất kỳ một router trung gian nào.

hqbien
29-04-2006, 02:45 AM
mình nói 1 quy trình đi đơn giản nhé:
2 thiết bị mạng trao đổi với nhau qua router, thì nó phải đi từ lớp 7 -> lớp 6... lớp 1 rồi truyền ra ngòai qua môi trường truyện Cách thức để truyền 1 gói tin đi là từ lớp trên cùng application xuống presentation, gói tin sẽ được bọc 1 header, rồi từ lớp này xuống session phải bọc thêm header nữa cho tới lớp physical có nhiệm vụ truyền tải gói tin đi Gói tin khi tới được router, router sẽ nhận được từ lớp physical, gửi lên datalink, bóc tách gói tin cho đến lớp 3 đọc được ip, router sẽ route tới máy destination, bằng cách đóng gói tại lớp 3 này tùy theo giao thức tcp hay udp, rồi truyền xuống dưới đóng gói MAC (tôi không rõ MAC này của thiết bị nào --> nhưng có thể là của router), qua lớp physical truyền tới máy đích và máy đích nhận gói tin và truyền lên từng lớp bằng cách bóc tách gói tin và nhận được tại lớp application Vì lâu quá không đụng vào có thể có vài chỗ không chắc chắn lắm, nhưng cũng có thể nói router làm việc đến lớp 3 là vậy

xo zi, lần trước reply nhầm.

MAC này là MAC nguồn, chính là MAC của router đang thực hiện việc encapsulate cái IP packet thành frame đó. Tôi nói vậy, ko biết có đúng không nữa Theo tôi, MAC của đích luôn không đổi khi một gói tin đi qua bất kỳ một router trung gian nào.

trungdungIT
08-07-2006, 09:10 PM
bạn hãy nghiên cứu kỹ hơn các tầng giaothuc này vì đây là một tất yếu cho bộ môn mạng
nếu bạn muốn tìm hiểu kỹ càng bạncos thể gui mailcho minh minh sẽ giúp bạn ok vì để nói hết minh không có thời gian
chào bán

hvas01
28-07-2006, 09:29 AM
MAC này là MAC nguồn, chính là MAC của router đang thực hiện việc encapsulate cái IP packet thành frame đó. Tôi nói vậy, ko biết có đúng không nữa :) :) Theo tôi, MAC của đích luôn không đổi khi một gói tin đi qua bất kỳ một router trung gian nào.

Bạn có thể xem lại thông tin này ko ??? :confused:

Theo mình trong quá trình liên lạc giữa 2 host nằm trên 2 segment khác nhau (sử dụng router trung gian) thì chỉ có IP ko đổi thôi bạn à, MAC đích và cả MAC nguồn đều thay đổi trong từng đoạn truyền

vd: máy 1 (MAC1, IP1) ---> Router (MAC_R1,IP_R1 ; MAC_R2,IP_R2) ---> máy2 (MAC2, IP2)
Khi đó (sau khi qua giai đoạn Proxy ARP, Default gateway rùi nha):
Từ máy 1->router sẽ là : (MAC1, IP1 ; MAC_R1, IP2)
Từ router->máy 2 sẽ là : (MAC_R2, IP1 ; MAC2 , IP2)

Thân ;)

nguyenhanoibk
18-07-2007, 10:19 AM
cho em hỏi câu này :
Em đọc ở phần Đụng độ trong Data Link thấy có phần ghi rằng: PC nếu hoạt động ở chế độ song công thì sẽ không xảy ra đụng độ vì nó có thể truyền và nhận đồng thời.
Theo em hiểu thì khi truyền và nhận đồng thời thì khả năng đụng độ xảy ra là cao hơn
Xin các bác giải thích dùm em.
Thanks

anhtri
19-07-2007, 12:02 AM
Việc truyền và nhận frame dựa trên các pin truyền và nhận khác nhau .Nên trong media full-duplex thì không có đụng độ :)

huyphuc1981_nb
13-09-2007, 12:20 PM
PhucLV trình bày sai về bản chất của collision. Do đó đưa ra giải thích sai. Bạn đọc sách nhưng không hiểu, tự đưa ra lý giải.

Collision là đặc tính cố hữu của ethernet.

Bản chất của một mạng ethernet như sau:

0. Ethernet là hệ thống mạng mà tất cả các card (net adaptor, NIC...) đều chỉ có một cổng giao tiếp và nối vào một hệ thống dây duy nhất. Dễ hiểu nhất là hệ thống dùng dây đồng trục. Hệ thống dùng Hub cho dây TP, Hub nối đôi Tx của mỗi card với đôi Rx của các card còn lại (Tx=phát đi, Rx= nhận về, 1236). Hệ thống này tin cậy ổn định với các mạng con có số trạm dưới 200.

1. Khi một card (net adaptor, NIC...) phát ra một bó thông tin thì tất cả các card trpng mạng đều được nhận và phải nhận. Đây là layer 1 (Network Interface layer,Network Access layer, physical layer...). Lớp này không có dịnh nghĩa IP. Đó gọi là Carrier Sense Multiple Access CSMA.

2. Mỗi card nhận được thông tin liền phân tích thông tin đó, xem nó có phải cho mình không, nó có đúng không.... việc phân tích thông tin này được layer 2 trở nên làm, không liên quan đến lớp vật lý. Như vậy ở lớp vật lý, mỗi bó tín hiệu truyền đi được cả mạng nhận. Viẹc phân bịet đi từ đâu đến đâu phải từ layer 2 trở lên.

3. Collision là hiện tượng một card đang phát tin thì một card xen vào tranh phát, cả hai bó thông tin đều bị hỏng.

4. Để chống Collision người ta dưa ra thuật tăng thời gian ngẫu nhiên. Mỗi card có thêm một cơ chế phát hiện Collision (Collision detect). Đồng thời, khi phát một bó tin mỗi card khởi động một biến lõi. Khi xuất hiện Collision, thuật giải nhân đôi biến lõi đó. Card sẽ phát lại sau một thời gian bằng một số lấy ngẫu nhiên từ 0 đến biến lõi, nhân với một hằng. Đều này làm xác suất có Collision giảm nhanh sau mỗi lần gặp Collision. Đó gọi là Collision Detect CD. Cách truyền (access method ) này gọi là Carrier Sense Multiple Access with Collision Detect (CSMA/CD).

Carrier Sense là "nghe sóng mang", cảm biến nghe sóng mang để phát hiện đường truyền rỗi và đụng độ. Khác với radio, sóng mang chỉ xuất hiện khi có tín hiệu truyền.

Ví dụ của O'Reilly Tcp Ip Network Administration. Giống như một phòng đông người. Mỗi người nói mọi người đều nghe được, nhưng phải phân tích xem thông tin có phải nói với mình không. Trước khi nói, mỗi người đều nghe đã, không ai nói mới bắt đầu nói, Carrier Sense Multiple Access CSMA. Khi hai người cùng nói thì không ai nghe được gì và hai người đều dừng, Collision Detect CD.

5. Switch chống Collision bằng cache. Khi một đường của Switch đang phát, nếu xảy ra phát từ đường khác thì switch tự động lưu trong cache và phát lại sau đó. Thuật giải này ưu việt, dòi hỏi thiết bị đắt tiền. Phần lớn các switch rẻ tiền bán ngoài thị trường có quảng cáo cái này nhưng đều láo, thực chất là Hub.

6. Switch dùng layer 2 trở nên chống Collision. Đầu tiên Switch tích lũy kinh nghiệm và biết IP nào, MAC nào gắn vào nhau, nhờ khả năng phân tích thông tin ở layer 2 (ví dụ, TCP/IP hay IPX/SPX). Khi phát, switch biết được bó tin nào sẽ đi đến đâu và nó ngăn không cho bó tin đi đến các chỗ khác. Người lập trình cho switch cũng có thể tạo các mạng riêng hạn chế Collision.

7. Router chống Collision. Nếu cả thế giới nối với nhau bằng ethernet thì các card suốt đời bị Collision. Người ta phải dùng router. Người ta chia thế giới ra nhiều mạng con, mỗi mạng con là một hệ thống ethernet, cho chúng Collision của nhau. Nhưng các mạng con này lại nối với nhau bằng các router, thiết bị này hiện nay được chế tạo ở rất nhiều dạng. Mục đích của chúng là chỉ cho các thông tin cần thiết đi qua. Dĩ nhiên, chúng phải chạy ở layer 2 trở nên. Ví dụ đơn giản nhất của router là modem.

Collision xảy ra ở lớp physical của ethernet, thực tế, không thể ngăn được nó mà chỉ khắc phục tác hại của nó. Các lớp 2 trở lên và không phải ethernet không có khái niệm Collision. Người ta chỉ dùng các lớp 2 trở lên khắc phục bằng cách chặn hay phát lại frame.

Phương pháp truyền xung đột này ứng dụng ở nhiều mạng, như mạng điện thoại di động chẳng hạn. Mạng các bộ đàm cổ lỗ từ hồi thế chiến 2 đến kháng chiến chống mẽo cũng làm việc như vậy, sử dụng chip tiên tiến là não và tai người để CD.

Đây là bản chất và các khắc phục Collision, Collision là một đặc điểm của ethernet, cách nối mạng nhỏ phổ biến nhất hiện nay. Các bạn có thể tham khảo TCP/IP của nhà sách O'Reilly. Cuốn sách xuất bản lần đầu năm 1995, được sửa rất nhiều lần, lần cuối là năm ngóai: O'Reilly Tcp Ip Network Administration.
------------

Một số bạn mình vẫn thắc mắc tại sao có Carrier Sense Multiple Access CSMA rồi mà vẫn có Collision và vẫn phải dùng Collision Detect (CSMA/CD)

Chuyện như thế này. Một đầu mạng có nhu cầu phát một frame, nó làm như sau.
+Sẵn sàng frame (đưa vào vùng đệm chuẩn bị phát). Khởi động các đầy thi phát nếu cần.
+Ngồi nghe sóng mang. Carrier Sense Multiple Access CSMA. Việc này như là chúng ta nghe radio, có tiếng ù ù là có đài đang phát. Khi có dài đang phát thì đầu mạng stop lại một thời gian rồi lại bật dậy ngồi nghe.
+Lặp lại như thế cho đến khi không thấy dài nào phát.
+Vào thời điểm Carrier Sense Multiple Access CSMA không thấy đài nào phát, đầu mạng khởi động quá trình phát.
+Collision xảy ra khi có 2 đầu mạng cùng ngồi nghe một đài thứ 3 đang phát. Khi đài thứ 3 này kết thúc, cả hai cùng bật lên phát. Chúng cùng phát hiện đường truyền rỗng một lúc và cả hai đều yên tâm là đường truyền rỗng và cùng phát đi một lúc.
+các thuật giải dựa trên số ngẫu nhiên làm giảm bớt rất nhiều khả năng Collision. Ví trong trường hợp này, kể từ lần cuối nghe thấy đường dây bận, hai đài đang dự định phát sẽ không bắt đầu chu kỳ nghe tiếp theo vào cùng một thời điểm. Như vậy, một trong hai đài sẽ nghe sau và nhận thấy đài may mắn bật lên trước đang phát, nó liền nhường lại. Nó nhường là lợi cho nó vì nếu nó phát thì cả hai cùng đứt và lại bắt đầu một chy kỳ chờ đợi mới.
+điều này giải thích việc không nên lắp các card quá khác nhau (hãng, băng thông....) vào một hup rẻ tiền, rất nhiều card rẻ tiền bật dậy nhanh sẽ làm chậm các card tử tế.
------

huyphuc1981_nb
13-09-2007, 12:25 PM
Việc truyền và nhận frame dựa trên các pin truyền và nhận khác nhau .Nên trong media full-duplex thì không có đụng độ
__________________
Ngô Đào Anh Trí, CCNP in progress.
Email: ngodaoanhtri@wimaxpro.org


media full-duplex và media Half-duplex không liên quan ở đây.
media full-duplex=song công
media half-duplex=bán song công (đơn công)

Truyền bán song công và song công là đi về riêng hay đi về cùng lúc. ethernet có tx rx rời nhau (1236), dùng song công cho khỏe, tội gì.
Bạn không độ với vợ bạn, nhưng khả năng xảy ra đụng độ với mình hầu như rất thấp, vì trong card người ta đã thiết kế sao cho ưu việt. Phần lớn các đụng độ là với hàng xóm, bạn có đơn công hay song công thì hàng xóm nó quan tâm gì, nó vẫn lao đầu vào vợ bạn như thường.

Thấy bạn nào bảo sách nào nói truyền đơn công song công không đụng, nhảm nhí quá.
Ví dụ như chơi game, mức độ truyền broadcast rất lớn. Nói thêm, broadcast là những bó thông tin tất cả đều nhận. Bạn thu phát không cùng lúc nhưng như một cái tháp Babel, tất cả đều hét toáng lên không ai nghe được.

Để chống vấn đề này.
Việc sử dụng cơ chế: "6. Switch dùng layer 2 trở nên chống Collision" không có tác dụng.
Người ta phải sử dụng cơ chế: "5. Switch chống Collision bằng cache".

Các switch xịn thực chất là một hệ thống máy tính dùng hệ điều hành bóp gọn (thường là Linux), thường chứa nhiều tính năng, bao gồm cả các tính năng đó.

Tính năng tạo thành mạng riêng trên một nhóm công và routing giữa các mạng riêng đó cũng hạn chế mạnh broadcast Collision, nhưng chỉ hợp với ưng dụng văn phòng. Chơi game tốt nhất là hạn chế số trạm.

Thực ra, quyển sách nào nói thế thì nhảm nhí quá. Truyền song công sẽ gây nhiều Collision hơn là bán song công. Đơn giản, khi truyền song công, card tổ chức 2 stack, tốc độ phát ra hữu ích tăng gấp đôi và khả năng đụng độ theo đó mà tăng, nhưng không vì thế mà hiệu suất giảm, thực tế hiệu suất (tốc độ truyền theo thời gian) vẫn tăng, đặc biệt khi có switch xịn.


-----------------
Đi trình tự từ dưới lên cho dễ hiểu :
Collision doamain : Vùng các thiết bị mà khi gửi dữ liệu cho 1 thiết bị khác có thể xảy ra collision
Broadcast domain : Vùng 1 thiết bị gửi tín hiệu broadcast cho tất cả thiết bị còn lại
...............
3. Để ngăn tín hiệu broadcast -- giảm cùng broadcast domain --> người ta đưa ra thiết bị là Router. Router hoạt động ở lớp Network (3) có chức năng chính là ngăn broadcast, dẫn đường cho network segment, lọc data,....
Còn nữa, mai viết tiếp


Chán quá. Trong mạng, không có vùng nào là vùng broadcast hay là vùng Collision. Đã bảo bạn đọc sách mà chả hiểu chút gì cả. Một Collision hay sự truyền một broadcast xảy ra trên toàn bộ mạng nhỏ (segment of lan), làm gì có vùng nào là những vùng đó. Đơn giản, người ta truyền một broadcast vì người ta muốn tất cả các trạm đều nhận bó thông tin trong đó, vậy broadcast phải đến được toàn bộ mạng con. Và cũng đơn giản, nếu sự truyền broadcast bị Collision thì toàn bộ vùng truyền broadcast bị Collision.

Broadcast hay là Collision luôn có tác dụng trên toàn bộ mạng con. Broadcast tùy theo yêu cầu config sẽ có tác dụng trên một số mạng con, thậm chí là một nhóm máy tính nào đó chứ không phải một mạng con. Ở ngoài mạng con phát ra Broadcast, người ta có thể chọn lọc để máy nào đó được chọn mới nhận Broadcast, nhưng trong quê hương của Broadcast tất cả đều nhận.

Khác với Broadcast, Collision là đặc trung của Ethernet. Khi có Ethernet thì có Collision và khi không có Ethernet thì không có Collision theo định nghĩa ở đây. Như vậy, khi đã đi qua Router, tức không còn trong một Ethernet nữa thì không có Collision.

Đây có thể là đoạn mô tả đồ thị thời gian. Quãng thời gian Collision chiếm hay broadcast chiếm có thể được bạn dịch như vậy. Hoặc đây xuất phát từ quyển sách nhảm nhí nào đó, tương tự như cái quyển viết rằng, media full-duplex thì không Collision.

Ví dụ, trong mạng VPN. Nếu muốn chơi game như trong mạng cục bộ thì phải config làm sao để các broadcast truyền di trong toàn mạng. Thật ra không riêng gì game, nhiều ứng dụng như mô phỏng, camera... đều sử dụng kiểu này. Ví dụ, một camera nếu muốn xem trên nhiều máy thì dùng cách này sẽ bớt rất nhiều băng thông, băng thông chỉ chiếm phần rất nhỏ so với sử dụng các frame kiểu khác.

huyphuc1981_nb
14-09-2007, 12:09 AM
Trên đã nói qua về Physical layer. Ở đây nói kỹ.

Institute of Electrical and Electronic Engineers chế ra một lô chuẩn mạng, trong đó có IEEE 802.3 hay ethernet.

Ethernet có một số tiêu chuẩn, chia làm 3 nhóm có dây và 2 nhóm không dây. 3 nhóm có dây là 10, 100, 1000 Mbps (Mega bit per second, chứ không phải Hez).

Đây là một vài tham số. (chịu khó đọc củ chuối tí, đỡ phải dịch).

Technology Name......Media Type.........Operating Speed.....Maximum Distance
10BASE-2.............Thin coax..........10 megabits.........185 meters
10BASE-5.............Thick coax.........10 megabits.........500 meters
10BASE-T.............CAT3 or CAT5 UTP...10 megabits.........100 meters
10BASE-F.............Fiber optic........10 megabits.........2,000 meters
100BASE-TX...........CAT 5 UTP or STP...100 megabits........100 meters
100BASE-FX...........Fiber optic........100 megabits........2,000 meters

Mỗi thứ đó đi kèm các đặc tả dây, đầu, card, sóng mang, biên độ, định nghĩa byte bit start stop......quét mành quét dòng vân vân. Chuỗi bít dài từ 64 bytes đến 1.518 Bytes. Nội dung như sau.

64 bít bắt đầu, trong đó 8 chú cuối là 1-byte Start Frame Delimiter. Chuỗi này tạo nhắc các card trong mạng chú ý lắng nghe. Giống như anh diến thuyết hắng giọng.

6-byte (48-bit) địa chỉ vật lý nhận (MAC)

6-byte (48-bit) địa chỉ vật lý phát (MAC)

2 bytes chiều dài phần dữ liệu

dữ liệu

4 bytes crc (kiểm tra sai).

hết

Như đã nói. Lớp này không quan tâm đến IP. Lớp Physical layer không biết IP là gì, đó chỉ là cái gì đó trong phần dữ liệu.

Dữ liệu từ Internet layer được cắt nối sao cho vừa Data link và Physical layer, và driver (vẫn là phần mềm) nhét các frame vào stack của card.

Ethernet II là tiêu chuẩn hãng khác, gần giống.

Ở Ethernet, có một thứ quan trọng là Media Access Control MAC, còn gọi là card ID. Đây là chỉ số card, tất cả các card đều khác nhau. Hội tiêu chuẩn phân bố các chỉ số vùng và hãng sản xuất, hãng sản xuất gắn thêm ID riễng cho mỗi card đảm bảo các card có chỉ số duy nhất. Trong một mạng con, nếu có hai card cùng chỉ số thì server hoặc switch sẽ điên ít ra một thời gian. CHỉ số card cũng có thể được thay đổi vì chỉ là một khối dữ liệu được ghi trong serial rom (chứa dữ liệu config card). Nhưng không phải lúc nào cũng có phần mềm làm việc này. Như trên đã nói MAC gắn vào frame của lớp physical, nhờ đó bó thông tin được biết là từ đâu truyền và truyền đến đâu.

MAC cũng có thể được phầm mềm sinh ra trong lúc phát tín hiệu. Vì bản thân serial rom được phần sụn hay phần mềm card phát đi nên về lý thuyết, hoàn toàn có thể dùng phần mềm gửi các bó thông tin giả lập MAC của mình. Tuy vậy, chỉ một số loại card, một số loại hệ điều hành cho phép làm điều này mà thôi. Hacker có thể dùng chương trình nghe xem trong mạng con có những card nào, rồi giả vờ là một card để lấy thông tin.

MAC dài 6 byte, nội dung của nó thế nào chẳng cần quan tâm.

Ở trên kia, bạn hvas01 đã phân tích chính xác cái sai của bạn hqbien. Ở mỗi mạng con, MAC của tất cả các bó thông tin từ segment khác đều dùng MAC của router segment này.

Có những router bảo toàn được MAC. Việc đó đòi hỏi phầm mềm rất mạnh và hệ điều hành điều khiển thiết bị sâu. Mình cũng nghe nói đến những thiết bị đóng gói kín (router) làm được việc này. Nhưng thực tế, mình chỉ nhìn thấy người ta làm điều này bằng một máy tính (lấy một máy tính cắm nhiều card vào và viết chương trình router, coi như máy tính là router). Chức năng này dùng cho một số VPN đặc biệt.

Ngoài ra, còn có chuẩn IEEE 802.5 (token ring) và Fiber Distributed Data Interface (FDDI token ring cáp quang) .

Điều cần nhớ, ở lớp này không có khái niệm IP, TCP/IP, IPX hay là SPX chi chi gì gì.

Trước đây, mô hình mạng sử dụng IP chia ra làm 4 lớp, trong đó lớp có tên Network Access phụ trách phần cứng mạng, công việc chính là chuyển từ các datagram thành frame và ngược lại. Sau này, các nhà làm mạng dựng lên OSI trên cơ sở này, chia ra làm 7 lớp. Trong đó Network Access chia ra thành 2: Data link và Physical. Nhưng các nhà kỹ thuật lại chia tiếp Data link ra làm 2 là MAC và LLC. Tổng cộng 3 lớp gắn kết vật lý mạng là (theo thứ tự):

Media Access Control (MAC). Lớp này cung cấo giao tiếo card mạng. Driver card trong hẹ điều hành còn dược gọi là MAC driver. Chỉ số MAC, như đã nói, riêng mỗi card.

Logical Link Control (LLC). Lớp này thực hiện kiểm tra lỗi và phân tích nơi đi nơi đến, điều hành việc truyền dữ liệu trong mạng con. Khi nhận được một frame, đây là nơi kiểm tra xem bó tin có đúng không và có nên nhận không.

Thực chất, 2 lớp này cắt các datagram ra thành các frame, ném vào stack, truyền đi và ngược lại.

Physical layer: là tập hợp các đặc tả về dây đã nói trên.

huyphuc1981_nb
14-09-2007, 12:13 AM
Đôi khi người ta dùng cổng com, USB, Paranell... để nối mạng. Để đám này chạy được, cần phải có một cơ chế sinh ra IP (phải layer 2 trở lên), mới dùng được các tài nguyên TCP/IP, đơn giản như Internet. Thông thường, phần mềm tổ chức một card mạng ảo, dùng các cơ chế cầu nối tạo ra các IP.

Physical Layer, DataLink Layer, Network Layer là những lớp hoạt động dưới mức IP.

Trên các bạn có tranh luận về thiết bị, đúng là thiết bị nào cũng có làm việc với các lớp thấp này. Nhưng một bạn cũng trả lời rất đúng. Mộ máy tính có cái card mạng thì không thể gọi đó là card mạng. Chưcs năng chính của máy tính là máy tính. Thiết bị mạng cũng vậy, cần đặt tên ở lớp chính nó chạy.

Ví dụ bằng hình vẽ. Router là thiết bị lọc tách các bó tin theo IP. Nó vẫn có đầu mạng từ các lớp thấp, nhưng chức năng chính của nó là ở lớp IP (Internet Layer). Người ta không nối trực tiếp hai lớp Internet Layer của các máy với nhau vì đã có 3 lớp thấp làm việc đó. Nhưng không phải vì thế mà gọi router là thiết bị nằm ở 3 lớp thấp.

http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/linhtinhpost/router_operation.jpg

socolak50
24-12-2008, 11:39 PM
đến lớp vật lý thì việc truyền đi là chuỗi các bit 0,1 thế còn ở các lớp trên trao đổi với nhau cái gì:58:

anhtri
25-12-2008, 12:39 AM
đến lớp vật lý thì việc truyền đi là chuỗi các bit 0,1 thế còn ở các lớp trên trao đổi với nhau cái gì:58:

có đơn vị ứng với mỗi lớp như tầng vật lí là tính hiệu điện thì tầng 2 là frame , tầng 3 là packet ...

phudc
02-04-2009, 01:58 AM
6. Switch dùng layer 2 trở nên chống Collision. Đầu tiên Switch tích lũy kinh nghiệm và biết IP nào, MAC nào gắn vào nhau, nhờ khả năng phân tích thông tin ở layer 2 (ví dụ, TCP/IP hay IPX/SPX). Khi phát, switch biết được bó tin nào sẽ đi đến đâu và nó ngăn không cho bó tin đi đến các chỗ khác. Người lập trình cho switch cũng có thể tạo các mạng riêng hạn chế Collision.

------

Switch làm việc ở layer 2, không làm việc với IP. Nó đọc frame ghi nhận lại MAC address và cổng mà frame đi vào, sau đó lưu thông tin này vào bảng lọc. Nhờ đó các lần sau nó có thể chuyển chính xác frame có địa chỉ phần cứng được gắn vào.



-----------------
Đi trình tự từ dưới lên cho dễ hiểu :
Collision doamain : Vùng các thiết bị mà khi gửi dữ liệu cho 1 thiết bị khác có thể xảy ra collision
Broadcast domain : Vùng 1 thiết bị gửi tín hiệu broadcast cho tất cả thiết bị còn lại
...............
3. Để ngăn tín hiệu broadcast -- giảm cùng broadcast domain --> người ta đưa ra thiết bị là Router. Router hoạt động ở lớp Network (3) có chức năng chính là ngăn broadcast, dẫn đường cho network segment, lọc data,....
Còn nữa, mai viết tiếp


Chán quá. Trong mạng, không có vùng nào là vùng broadcast hay là vùng Collision. Đã bảo bạn đọc sách mà chả hiểu chút gì cả. Một Collision hay sự truyền một broadcast xảy ra trên toàn bộ mạng nhỏ (segment of lan), làm gì có vùng nào là những vùng đó. Đơn giản, người ta truyền một broadcast vì người ta muốn tất cả các trạm đều nhận bó thông tin trong đó, vậy broadcast phải đến được toàn bộ mạng con. Và cũng đơn giản, nếu sự truyền broadcast bị Collision thì toàn bộ vùng truyền broadcast bị Collision.


Mình đọc trong cuốn Cisco CCNA Study Guide Exam 640 – 802 có thấy nói về phân vùng Collision. Cụ thể:

Collision domain: được hiểu là phân vùng khi 1 thiết bị truyền, các thiết bị còn lại trong phân vùng này đều phải nhận. Tương tự như sử dụng Hub để nối mạng đó là 1 phân vùng collison.

Broadcast domain: Phân vùng có thể broadcast được. Broadcast xảy ra trên toàn bộ Subnet, có cùng địa chỉ đường mạng. Còn segment là bất cứ thứ gì gắn vào port của Hub hay Switch, kể cả hub hay switch khác. Ví dụ: 1 hub 4 port có 3 máy tính, 1 hub khác được gắn vào thì hub đó có 4 segment.

1 ví dụ khác: 1 Switch có 4 port được gắn vào 4 HUB thì mỗi port của Switch là một Collision domain, còn tất cả hệ thống mạng đó gọi là Broadcast domain.

delayms
03-05-2009, 10:31 PM
Anh chi cho em chút là TCP/IP có mấy lớp, tại em thấy có sách ghi 4 lớp, có sách ghi 5 lớp:
5 lớp: Application
Transport
Internet
Network Access
Physical
4 lớp: Application
Transport
Internet
Network Interface.
có phải là: Network Interface.= Network Access (drive card mạng) + Physical(card mạng).

takalama
09-09-2009, 12:22 AM
Ngoài các chức năng trên của session , session layer còn có nhiệm vụ phân biệt dữ liệu của phiên làm việc nào . Ví dụ , bạn đang chạy Yahoo Messenger , ICQ cùng một lúc . Các Application này không chứa trong Application Layer của OSI mà nó sử dụng Service của Layer này để giao tiếp . Session layer có nhiệm vụ mã hoá , giải mã dữ liệu của các ứng dụng khác nhau , và điều quan trọng hơn là nó phân biệt được dữ liệu này là của ứng dụng nào để điều phối các phiên làm việc cho đúng !

Cho mình bổ sung một chút !
Tầng session có nhiệm vụ chính là tạo các phiên làm việc cho các ứng dụng. Mỗi phiên làm việc của 1 ứng dụng sẽ được gán cho 1 Port và quá trình truyền dữ liệu từ máy nguồn đến máy nhận được gán Port nhất định.

Vd: PC A gửi 1 cái Mail cho PC B

Với PC A:
Port Source= 1973(Bất kì >1024)
Port Destination=25
Tới PC B
Port Source=25
Port Destination=1973

Thì session ở đây chính là PC A gửi cho PC B một cái mail, và tại PC B nó biết trả lời thế nào với PC A thông qua port.