View Full Version : Một câu hỏi về OSPF Database
leminhkhoi
03-11-2003, 10:45 AM
Chào các bạn,
Khi mình đọc phần link state Routing Protocol có nói tới một khái niệm là Sequences numbers, mình đọc mà thấy lung tung quá, bạn nào có thể giải thích giúp mình với. Nếu có thể bạn có thể chỉ cho mình câu lệnh nào để coi con số này trong OSPF luôn.
Mong các bạn giúp đỡ.
Thân chào
dangquangminh
03-11-2003, 11:46 PM
hi,
Trong các link-state routing protocols (như OSPF), các routers sẽ trao đổi các LSA (Link State Advertisement) với nhau. Các LSA này sẽ được cập nhật vào database của mỗi routers.
Để đảm bảo là các database luôn có thông tin mới, các LSA này được đánh thêm chỉ số sequences. Chỉ số sequences sẽ bắt đầu từ giá trị Initial đến giá trị Max-Age. Khi một routers nào đó tạo ra một LSA, nó sẽ đặt giá trị sequence bằng initial. Mỗi khi routers gửi ra một phiên bản LSA update khác, nó sẽ tăng giá trị đó lên 1. Như vậy, giá trị sequence càng cao thì LSA update càng *mới*.
Nếu giá trị sequence này đạt đến Max, routers sẽ flood LSA ra cho tất cả các routers còn lại; sau đó router đó sẽ set giá trị sequence về giá trị Initial.
Như vậy, nếu trong router OSPF của Khôi đã có một LSA có giá trị sequence là 0x80000003, Khôi nhận được một LSA cũng về network đó có sequence là 0x80000002, Khôi sẽ không update. Ngược lại, router của Khôi sẽ gửi LSA có sequence cao hơn trở về source. Còn nếu giá trị sequence của Router Khôi nhỏ hơn (thông tin lỗi thời), Khôi phải chịu update thông tin mới.
Khôi có thể xem thêm một bài viết rất hay của cis_hat:
http://vnpro.org/forum/viewtopic.php?t=2277
Thân mến,
cis_hat
04-11-2003, 09:52 AM
Hi Khoi ,
Khoi dùng lệnh :
show ip ospf database , sẽ thấy được Seq#
it_email
07-11-2003, 10:59 AM
Tại sao cost của các Router chạy OSPF phải giống nhau.có phải vì cả net chạy chung SPF algorithm nên cần có giá trị cost chung để tạo ra SPF tree?Giá trị cost này chung cho tất cả router hay chỉ giữa hai router cùng một link
TGA_Certificationteam
07-11-2003, 11:24 AM
Giá trị cost phải identical và được thống nhất cho toàn bộ hệ thống ( media này thì cost bao nhiêu v.v.).
Cũng giống như làm toán thôi, 1 thì có giá trị là 1 , Delta , Pi .v.v., nếu khác nhau thì không cách nào ra kết quả được đâu. Giải thuật SPF - Shortest Path First nếu đem ra visualize thì sẽ giống như một nhánh hình cây, tồn tại duy nhất một đường từ Root đến bất kỳ điểm nào. Mổi Router OSPF sẽ luôn tự cho mình là Root của toàn mạng.
Về phần Sequence number, phần này khá hay đó, lúc trước theo như Case study đã được document trong CCIE vol 1 Jeff Doyle thì đã có một sự cố do SQC number error làm down mạng 1 ngày, ặc ặc.
Vì sao cần sequence, hảy nhớ lại sequence dùng làm gì, nói văn hoa thì nhiều, nhưng nguyên tắc chính là dùng để xác định 2 giá trị, giá trị nào mới hơn (lớn hơn) và giá trị nào cũ hơn (nhỏ hơn). Vậy bài toán trở về đơn giản quá, cho 2 số a và b , xác định các cách để định nghỉa a có lớn hơn b hay không.
Có 3 nguyên tắc Sequence chính thôi
1-Linear : chạy đường thẳng. Giá trị tăng dần đến cực đại thì reset. Giá trị lớn hơn thì lớn hơn.
2-Circular (tên chính xác quên rồi): hơi khó giải thích, nhưng có thể nói nôm na là có 2 giá trị a, b, chạy trên một miền giá trị luân hồi (không biết bên DH gọi là gì nhỉ) 1->59 -> 1->59 là 60(value), thì công thức toán học cho phép chứng minh tại 2 điểm a và b cho trước, có thể chứng minh a lớn hơn hay nhỏ hơn b. <--- Nghe hơi lùng bùng, nhưng đọc sách bạn sẽ hiểu rỏ hơn á.
3- Candy on a stick :D: Cách thông dụng nhất, thấy cây kẹo mút của em bé như thế nào, thì cái này giống như vậy đó. Cái cây (stick) là một miền giá trị linear, còn cái vòng (Candy) là miền giá trị luân hồi. Miền giá trị của Squence lúc đó sẽ được chia ra 2 miền giá trị nhỏ như trên (Stick and Candy), ban đầu chạy ở Stick trước, rồi sau đó qua Candy (an cây rồi mới an kẹo).
cis_hat
07-11-2003, 06:26 PM
Cost là metric của OSPF , Cisco tính cost dựa trên băng thông sao cho tốc độ kết nối của link càng cao thì cost càng thấp dựa trên công thức
Cost = 108/ bandwidth
Tuy nhiên chúng ta có thể thay đổi được cost . Nếu 1 router có nhiều đường đến đích mà cost bằng nhau thì router sẽ load balancing trên các đường đó ( tối đa là 6 đường ) . Các router cùng media phải điều chỉnh cost giống nhau . Những tham số bắt buộc phải giống nhau là Hello/dead intervals , Area – ID , authentication password (nếu có ) , stub area flag
1''hpSky
25-02-2004, 09:22 AM
Giải thuật SPF (ví dụ Dijkstra) cần đến bảng mô tả kết nối của tất cả các Router trong mạng, với trạng thái tương ứng của kết nối (ví dụ cost, mức độ sử dụng đường truyền, trạng thái link...). Với bảng cơ sở dữ liệu Topological sau của OSPF, các trường thông tin thể hiện ý nghĩa gì và được sử dụng như thế nào trong OSPF??
show ip ospf database
OSPF Router with ID (10.12.1.1) (Process ID 1)
Router Link States (Area 0)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum Link count
10.12.1.1 10.12.1.1 482 0x80000006 0x1C13 2
172.16.3.2 172.16.3.2 468 0x80000004 0xFD89 2
Summary Net Link States (Area 0)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum
192.168.0.0 10.12.1.1 695 0x80000001 0x743D
imported_abc
25-02-2004, 11:50 AM
1 .OSPF Router with ID (10.12.1.1) (Process ID 1)
- Hiển thị thông tin của router ID và process ID của router
2.Router Link States (Area 0)
- Hiển thị Router Link States của router trên area 0 . chỉ ra kết nối của router tới các neighbors được discover qua hello protcol
- Link ID : Nhưng cái có cùng OSPF router ID.
- ADV Router :là OSPF router ID được router quảng bá
-Age : Là thời khoảng thời gian kể từ lần cuối cùng update bảng routing trên router và được tính bằng đơn vị giây(second)
-Seq :Dẫy số thể hiện để bảo đảm rằng LSA chính xác trong quá trình update
-Checksum: Dùng để kiểm tra tính toàn vẹn của quá trình LSA update.
-Link Count:Số kết nối mà Router đã cấu hình cho OSPF
- Net Link States : Hiển thị các thông tin lấy từ network LSA mà router đã nhận đuợc
1''hpSky
25-02-2004, 01:20 PM
Nhưng output đó là của OSPF1 trong tôpô sau:
http://vnpro.org/forum/files/topo.JPG
ADV router là OSPF router ID được router quảng bá chính là các Neighbor Router ID học được qua hello packs trong Area??
Khái niệm link count nghe mù mờ quá, router thì làm sao mà cấu hình được cho OSPF?? Có phải theo ý bác thì số interface được cấu hình cho OSPF trong một area nào đó là link count??
Trường Age, hay Age Timer, theo mặc định là 30phút, thể hiện chu kỳ sống của các LSA. Trong trường hợp này hai cái link ID 10.12.1.1 và 172.16.3.2 có các Age khác nhau có nghĩa chúng được cập nhật bởi các LSA khác nhau?? Nếu 10.12.1.1 là connected interface của OSPF1 thì nó xây dựng cái Age Timer ntn?
Cuối cùng, gửi mọi người file show ip ospf database trên OSPF1:
OSPF Router with ID (10.12.1.1) (Process ID 1)
Router Link States (Area 0)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum Link count
10.12.1.1 10.12.1.1 482 0x80000006 0x1C13 2
172.16.3.2 172.16.3.2 468 0x80000004 0xFD89 2
Summary Net Link States (Area 0)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum
192.168.0.0 10.12.1.1 695 0x80000001 0x743D
Router Link States (Area 1)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum Link count
10.12.1.1 10.12.1.1 704 0x80000004 0x3556 1
Summary Net Link States (Area 1)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum
172.16.3.0 10.12.1.1 705 0x80000001 0x8B9C
OSPF1#
Không hiểu với topo như trên mà lại xuất hiện địa chỉ 10.12.1.1 là cớ làm sao??
minhtit
25-02-2004, 02:49 PM
Hi,
Theo mình thì 10.12.1.1 là (highest) loopback interface address.
sinhvienngheo
25-02-2004, 03:15 PM
hi 1''hpsky,
về trường sequence-number cũng như timers, bạn xem một thảo luận tuyệt vời của leminhkhoi, dangquangminh, cishat và it_email:
http://vnpro.org/forum/viewtopic.php?t=2316
Về khái niệm link-count, đó chính là số kết nối/interface chạy ospf trên một router nào đó.
Age của connected interface được xác định ngay từ đầu khi một interface đó được chạy ospf và được đưa vào database.
Mến,
1''hpSky
25-02-2004, 03:37 PM
Thanks svn,
hi anh minhtit: Tất nhiên là em không config loopback interface mà, thế mới lạ chứ?? Hay lỗi gì của IOS?
imported_abc
25-02-2004, 07:19 PM
Hi Sinhvienngheo
Theo mình vì default max-age = 3600 sec do đó cứ 30 phút ospf router lại phải flood toàn bộ database đi 1 lần để tránh bị max-age , cho nên thông số age đó chính là hiện thị thời gian cưa lần cuối cùng update
Thân
it_email
01-03-2004, 10:35 AM
hi!
Khi router đang up,sau đó bị down rồi up lại.Nó sẽ làm thế nào để biết sequence number gần đây nhất mà nó gửi?
- Giải pháp cho vấn đề này là neighbor sẽ gửi cho nó một LSA để cho nó biết sequence mumber lần cuối mà nó gửi trước khi down.Nhưng vấn đề phát sinh là neighbor của nó có thể cũng "quên" luôn cái số này.Vậy thì làm thế nào để router cập nhật thông tin dựa vào sequence number.
-Theo it_email nghĩ thì nó sẽ dùng sequence number trong LSAs mà các neighbor gửi cho nó.Coi cái nào lớn nhất thì dùng cái đó để cập nhật tiếp info.Nhưng như vậy thì cũng ko ổn,vì một LSAs có sequence number lớn hơn thông tin vẫn có thể cũ hơn.Như vậy thì lại dẫn đến một vấn đề khác:giả sử router này dùng sequence number mới nhất mà nó được nhận từ neighbor của nó. Nhưng LSAs này toàn là thông tin cũ so với các router khác. Con router này ko biết,nó cứ cập nhật vào topology table và sau đó là routing table của nó.Vì thế nó có thể sẽ send packet đến sai địa chỉ.
Làm thế nào để fix vấn đề này?
Thân ,
it_email
01-03-2004, 10:38 AM
Thế anh có config thêm cái interface nào nữa ko?
themask
01-03-2004, 11:39 AM
Themask có một câu hỏi:
Router flood LSAs ra khỏi các Interface của nó trừ interface mà nó nhận LSAs
update. Vậy có bao giờ 1 router nhận được cùng môt LSAs từ các interface khác nhau không?
Nếu không thì rõ ràng là không cần đến Seq như Revision trong VTP làm gì ?!?
minhtit
01-03-2004, 01:26 PM
hi 1''hpsky,
Chuyện 10.12.1.1 thế nào rồi, đã tìm ra cái gì mới chưa? Nếu chưa thì làm theo cách loại trừ vậy: down từng interface chẳng hạn...
1''hpSky
01-03-2004, 01:52 PM
Rõ chán, em có mỗi hai con router dòng 2500, nghịch được một lúc thì một thằng lăn ra chết đứ đừ. Số là em cho nó thử cái authentication kiểu message-digest trong OSPF, config xong reload lại, nó boot đến lúc nạp IOS vào RAM thì kêu là "INSSUFFICIENTLY MEMMORY TO BOOT THE IOS". Bởi thế nên không kịp làm theo giải pháp của anh minhtit.
Nhưng em sure việc cấu hình đấy, bởi erase start-up rồi mà, show ip interface brief lên chẳng thấy thằng nào là 10.12.1.1 cả, "thế mới đau chứ lị".
Chắc chỉ là lỗi đâu đó của IOS, vì con router này cũng đang đắp chiếu.
Nhân tiện hỏi mọi người: Em không thể vào rommon hay bootrom của router từ coolboot là cớ làm sao?? Nạp IOS mới nó cứ kêu "INSSUFFICIENTLY MEMMORY TO BOOT THE IOS"?? Change register rồi vẫ thấy không thay đổi gì??
IOS em chạy: c2500-i-l.112-23.P.bin
Các bác ra tay giúp em cái,
Saigon,Vietnam
01-03-2004, 03:14 PM
1''hpSky,
Anh Minhtit bắt mạch dúng rồi:
"Theo mình thì 10.12.1.1 là (highest) loopback interface address."
Router Link States (Area 1)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum Link count
10.12.1.1 10.12.1.1 704 0x80000004 0x3556 1
Summary Net Link States (Area 1)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum
172.16.3.0 10.12.1.1 705 0x80000001 0x8B9C
OSPF1#
Output trên cũng nói lên rằng 10.12.1.1 là ip add của local router OSPF1 (It is advertising route 172.16.3.0 as a summary link from area 0 to area 1 where it belongs to) . That must be a logical interface!
"nó boot đến lúc nạp IOS vào RAM thì kêu là "INSSUFFICIENTLY MEMMORY TO BOOT THE IOS".
Routers 2500 IOS không run trong Dynamic RAM. Tuy nhiên, message nhận dược là 1/2 sự thật: DRAM trong 2500 routers cần cho running-conf, shared-memory....
Nếu IOS c2500-i-l.112-23.P.bin này là image dã dang run trước khi failed, mình doán rằng DRAM failed just after reboot. Sometimes chỉ cần lấy DRAM stick/s ra, clean pins and re-insert trở lại cũng fix dược problem.
1''hpSky có thể try với known good DRAM lấy ra từ 1 router 2500 khác coi có dúng bệnh chăng?
Good luck,
1''hpSky
01-03-2004, 03:32 PM
Cảm ơn bác sgvn về vấn đề xử lý lỗi IOS nhé,
Còn chuyện cái entry 10.12.1.1, bỏ qua đi mọi người nhé. Mọi thứ trên đời chẳng lúc nào hoàn hảo, mà thực tiễn lại là chân lý ;)
Mọi người vào đây giải trí một chút nhé http://www.kejseren.dk/filer/delikancow.swf
it_email
02-03-2004, 01:22 PM
Có thể vì khi tất cả các router flood LSAs ra tất cả các interface của nó thì một router có thể nhận nhiều LSAs.Mà nêu ko như vậy thì vẫn cần sequence number,vì có thể nó sẽ nhận thông tin cũ từ một LSAs mới .v.v.
kokichi81
22-06-2004, 11:34 AM
Mình đọc trong cuốn BSCI có một điều kiện này khi kiểm tra LSA:
"Did the LSA arrive after the minimum timer to run SPF algorithm again had expires?"
Mình không hiểu câu này, hãy giải thích hộ mình.
kokichi81
22-06-2004, 05:53 PM
Câu này không có ở trong đoạn nào nà nó là một điều kiện ở lưu đồ kiểm tra xem LSA đó có được lưu vào trong database không?
minhtit
22-06-2004, 06:49 PM
Hi,
Mình xin có một chút giải thích thế này:
Mỗi khi nhận được một LSA, OSPF sẽ kiểm tra xem LSA đó có trong database chưa.
- Nếu chưa có thì nó sẽ đưa vào database.
- Nếu có rồi thì sẽ kiểm tra xem có mới hơn cái LSA đã có không (dựa vào time stamp)
+ Nếu cũ hơn thì loại bỏ
+ Nếu mới hơn thì sẽ kiểm tra xem "Did the LSA arrive after the minimum timer to run SPF algorithm again had expires?", có nghĩa là khoảng thời gian giữa LSA lần trước và LSA lần này có lớn hơn khoảng thời gian giữa hai lần chạy giải thuật SPF hay không (theo mình nhớ thì đó là 5s). Nếu "yes" thì cập nhật vào database đồng thời flood LSA đó, ngược lại thì loại bỏ.
Ý nghĩa: giảm việc cập nhật / flood LSA và chạy SPF liên tục (mặc dù LSA là mới)
Chúc vui vẻ.
kokichi81
23-06-2004, 09:25 AM
Em vẫn chưa hiểu đoạn này.Như anh nói thì cứ 5s thì nó chạy lại thuật toán SPF một lần.Thế nếu trong vòng 5s mà nó không nhận một LSA nào mới thì nó có chạy thuật toán SPF lại không?
Ngoài ra trong trường hợp :sau một khoảng thời gian dài mà nó không nhận được một LSA thì sẽ xảy ra hiện tượng gì?Có phải là nó sẽ xoá database của nó đi và bắt đầu thực hiện việc cập nhật database lại từ đầu.
minhtit
23-06-2004, 09:56 AM
Hi,
Sẽ không chạy lại SPF khi database không có gì mới (không có LSA mới). Điều này hoàn toàn dể hiểu vì mỗi lần chạy SPF sẽ tốn tài nguyên, chiếm thời gian của CPU. Và hơn nữa nó ... vô nghĩa.
5s là khoảng thời gian tối thiểu giữa hai lần chạy SPF. Nói cách khác, nếu hai LSA giống nhau nhận được trong vòng 5s thì LSA sau sẽ không được coi là LSA mới. Về khía cạnh này bạn nào đã từng lập trình cho các hệ thống real-time đều gặp phải. Nó giảm thiểu việc phải xử lý các event có tính chất ON-OFF liên tục, mà nhiều khi sự ON-OFF đó nằm ngoài sự control của chúng ta.
Sau một khoảng thời gian xác định (30 phút ???, bạn check lại trong tài liệu nhé), OSPF sẽ flood toàn bộ database của nó ra mạng (chứ không phải là xóa toàn bộ database). Có nghĩa là về lý thuyết, sau 30' thì database sẽ được refresh một lần.
Chúc vui vẻ
kokichi81
23-06-2004, 10:07 AM
Em sẽ đọc lại đoạn này .
Cảm ơn anh nhiều.
Còn một cau này em thắc mắc:OSPF tính metric dựa vào database của nó.
Nhưng khi sh ip ospf database thì không hề thấy có giá trị cost nào cả.
Vậy dựa vào đâu mà OSPF tính được đường đi ngắn nhất từ nó tới mạng đích.
Vì trong database chỉ có thông tin về mạng đích,router ID của router nối vào mạng đó,sequence,age,checksum.Em không biết nó dựa vào đâu để tính được đường đi ngắn nhất.
Thanks
minhtit
23-06-2004, 02:36 PM
Hi kokichi81,
Mình vừa xem lại tài liệu và thấy mình có đôi chút nhầm lẫn trong phần giải thích ở trên. Mình xin đính chính như sau:
- 5s là khoảng thời gian OSPF chờ để chạy SPF, kể từ lúc nhận được LSA. Như vậy nếu trong vòng 5s mà có LSA giống với LSA mà nó vừa nhận được thì nó sẽ bỏ qua LSA đó. Đây chính là ý nghĩa của câu hỏi đầu tiên của bạn.
- 10s là khoảng thời gian tối thiểu giữa hai lần chạy SPF.
Còn câu hỏi sau của bạn thì mình nghĩ thế này: cost được tính cho mỗi outgoing link (chứ không phải là cho route). Mình chưa biết lệnh nào show được tất cả các cost đó lên (!!!).
OSPF sẽ có hai thông tin riêng biệt nhau mà nó lấy được từ LSA:
1. Đoạn từ R_x đến R_y có cost là bao nhiêu
2. Rx, Ry nối với mạng Nx, Ny nào.
Chú ý rằng giá trị cost này không được cộng dồn, có nghĩa là dù có chạy qua bao nhiêu router thì nó vẫn giữ giá trị ban đầu. Điều này khác hẳn với các giải thuật vector (RIP hay IGRP/EIGRPchẳng hạn)
Và nhiệm vụ của giải thuật SPF là tính được đường đi ngắn nhất từ các thông số trên. Nếu bạn đã đọc qua Dijkstra thì sẽ hình dung được ngay.
Chúc vui vẻ
netdevice
23-06-2004, 03:08 PM
Hi all,
Câu lệnh show ip ospf database chỉ hiển thị tóm tắt các LSA được lưu trữ. Để xem cost của các link trong các LSA và các thông số khác, sử dụng show ip ospf database router (network, summary,...) để hiển thị chi tiết các thông số của các link được quảng cáo trong từng LSA.
Thân chào.
kokichi81
23-06-2004, 03:57 PM
Hi all,
Câu lệnh show ip ospf database chỉ hiển thị tóm tắt các LSA được lưu trữ. Để xem cost của các link trong các LSA và các thông số khác, sử dụng show ip ospf database router (network, summary,...) để hiển thị chi tiết các thông số của các link được quảng cáo trong từng LSA.
Thân chào.To minhtit:"Chú ý rằng giá trị cost này không được cộng dồn, có nghĩa là dù có chạy qua bao nhiêu router thì nó vẫn giữ giá trị ban đầu. Điều này khác hẳn với các giải thuật vector (RIP hay IGRP/EIGRPchẳng hạn) "
Em thấy đoạn này hình như có vấn đề.Nếu vậy thì router đâu có tìm được đường đi ngắn nhất tới đích.
Nhân tiện cho em hỏi:em đọc thấy anh đã thi CCIE written rồi.Ngoài quyển Routing TCP/IP anh còn đọc một số quyển khác nữa.Anh có ebook không.Anh có thể share cho em không?
minhtit
23-06-2004, 05:07 PM
Hi kokichi81,
1. Mình thấy đoạn viết của mình có vấn đề gì đâu.
Để làm rõ vấn đề này, mình thấy rằng cần phải hiểu rõ các routing protocol (tạm gọi là router) chạy các giải thuật vector / SPF khác nhau ở điểm nào. Xét đến các quảng bá route mà các router này nhận được:
- thuật toán vector : nhận các thông tin quảng bá route, tính toán, cập nhật "cost" mới (vdụ như hop trong RIP, hay là delay/bandwidth...trong IGRP chẳng hạn) và quảng bá tiếp. Do vậy, ngay sau khi nhận được quảng bá route, đường đi (ngắn nhất) đến đích coi như là biêt được ngay. Bởi vì "cost" đã được accumulate bởi các router trong mạng, chỉ cần so sánh trực tiếp là ra ngay.
Trong trường hợp này, router chỉ quan tâm tới các router liền kề với nó.
- thuật toán SPF: chỉ nhận các quảng bá, không làm gì cả (để cho đơn giản, không xét đến các trường hợp summary hay stub...) , và quảng bá tiếp (theo kiểu tiếp sức vậy). Do vậy để biết được đường đi ngắn nhất đến đích thì phải chạy SPF. Có nghĩa là việc accumulate các "cost" sẽ được thực hiện bởi SPF trong quá trình tính toán, chứ không phải trong quá trình cập nhật các thông tin quảng bá route
Trong trường hợp này, router phải chú ý tới tất cả các router khác trên mạng.
2. Hiện tại mình còn chưa đọc CCIE written !!!!!!. Mình thấy các cuốn Cisco Press viết khá kỹ. Hiện tại mình cũng có một số tài liệu. Bạn muốn quyển nào thì cứ post lên, nếu mình có sẽ share cho.
Chúc vui vẻ.
kokichi81
24-06-2004, 11:48 AM
Mong mọi người giúp đỡ:
1.Trong OSPF , định tuyến không hoạt động trên địa chỉ secondary.Vậy EIGRP có hoạt động trên địa chỉ secondary không?
2.Sau một khoảng thời gian 30',router tự động refresh lại database.Việc Refresh này là refresh từng LSA(dựa vào khoảng trường AGE) hay là refresh toàn bộ LSA cùng một lúc.
Thanks
govap
24-06-2004, 12:44 PM
hí.
1. muốn eigrp hoạt động trên các secondary address, kokichi phải tắt (turn off) split horizon trên các interface này. Tuy nhiên, động tác này cần phải dùng kết hợp thêm với distribute-list để không bị loop.
2. Theo mình thì toàn bộ ospf database sẽ được refresh.
netdevice
25-06-2004, 02:54 PM
Hi all,
Đối với Cisco IOS 11.3 trở về trước, LSRefreshTime được kết hợp với toàn bộ LSA database, mỗi 30 phút, mỗi router sẽ refresh toàn bộ các LSA nó tạo ra, bất kể giá trị age thật sự. Phương pháp này có khuyết điểm nếu LSA database lớn thì cứ mỗi 30 phút, router sẽ tăng đột ngột mức độ sử dụng CPU và bộ nhớ.
Các phiên IOS 11.3 AA trở về sau sử dụng LSRefreshTime cho từng LSA riêng. Nhưng phương pháp này không tối ưu việc sử dụng băng thông đường truyền để gởi các LSA vì mỗi lần gởi trong LSU chỉ có 1 hoặc vài LSA. Để cải thiện khuyết điểm này, Cisco sử dụng cơ chế LSA group pacing. Mỗi LSA sẽ có Refresh timer riêng, nhưng khi timer này hết hạn, LSA sẽ không được refresh ngay mà đợi một khoảng thời gian mặc định là 240s, khi hết thời gian này, các LSA cần refresh sẽ được gởi chung trong LSU.
Có thể thay đổi thời gian này bằng lệnh :timers lsa-group-pacing
Thân chào.
kokichi81
21-07-2004, 09:30 AM
To govap:
Mình đọc trong một tài liệu thì thấy nó nói rằng eigrp không hoạt động trên secondary address được.Vì khi router gửi thông tin định tuyến đi nó tự động lấy source là địa chỉ IP của primary address.
Thanks
kimlong
04-12-2004, 06:17 PM
Trong các giao thức link-state ,mỗi router duy trì dữ liệu mô tả trong AS của mình (Vùng tự trị Autonomous System).Những dữ liệu này được coi như là dữ liệu của link-state. Những router tham gia có 1 dữ liệu đồng nhất. Mỗi phần nhỏ của dữ liệu này là 1 đặc điểm riêng biệt của 1 router nội bộ( interface của router,v.v). Router phân phối các route trong vùng AS bằng cách phát tán các gói tin tràn ngập trên vùng AS.
Mỗi router chạy 1 thuật toán giống nhau thật sự,và chạy song song .Từ những dữ liệu của link-state ,mỗi router tự xây dựng 1 con đường ngắn nhất tới các điểm còn lại và xem nó như là 1 nút gốc(root).Thuật toán này cho nó biết được điểm đến ngắn nhất trong vùng AS . Trong một trường hợp bằng về chi phí đường đi đến một mạng đích,lưu lượng sẽ phân phối đều giữa các tuyến đường này. OSPF nhóm những thành phần mạng lại thành những nhóm và được gọi là area .Topology của các area này đựoc nằm ẩn trong các thành phần khác nhau của 1 AS.Vấn đề này giảm thiểu lưu lượng định tuyến . OSPF cho phép cấu hình 1 cách mềm dẻo với những mạng con .Nó là giao thức clasless,nên hổ trợ VLSM,và discontigous network.
VoThanhDuy
05-12-2004, 05:25 PM
OSPF sử dụng giải thuật Dijkstra để xây dựng bảng định tuyến. Đây là giải thuật xây dựng các đường đi ngắn nhất SPT để đi đến đích. Thông điệp quảng cáo LSA mang thông tin của router và trạng thái các láng giềng lân cận. Dựa trên các thông tin học được khi trao đổi các thông điệp LSA, OSPF sẽ xây dựng topology mạng. Mỗi router chạy 1 thuật toán giống nhau thật sự và chạy song song .Từ những dữ liệu của link-state đã nêu ở trên, mỗi router sẽ tự xây dựng một con đường ngắn nhất tới các điểm còn lại và xem nó như là 1 nút gốc (root) của cây này. Trong một trường hợp bằng về chi phí đường đi đến một mạng đích, lưu lượng sẽ phân phối đều giữa các tuyến đường này.
Mô tả giải thuật :
N={s},s là nút nguồn
For all node v#s
Begin
esv:=Csv
If esv<¥ then Lsv:=(s,v)
End
Do while(N không chứa tất cả các node)
Find w#N for which es(w)=min(esv)
N=N U {w}
For all v không thuộc N
Begin
Temp:=esv
esv:=min(esv,esw +ewv)
if esv<temp then
L:=Lsw U {v}
End
End
infin
02-06-2005, 11:56 PM
Để mỗi node đưa các route một cách thích hợp chính xác qua mang, liên mạng thì mỗi node phải có một topology database của toàn mạng. Database này bao gồm tất cả các LSA mà router nhận được. Bất cứ một sự thay đổi mạng nào đều được thể hiện trong các LSA. Flooding là quá trình khi một sự thay đổi xảy ra thì các LSA mới được gửi qua mạg để đảm bào rằng database của mỗi node được update và giống y hệt các database của node còn lại khác.
Quá trình flooding được tạo bởi 2 loại gói sau:
Link State Update packets (type 4)
Link State Acknowledgment packets (type 5)
Trên point-to-point network, Link State Update packet được gửi bằng địa chỉ multicast là 224.0.0.5.
Trên point-to-multipoint network và virtual link network, Link State Update packet được gửi dưới dạng unicast tới interface address của adjiaceny của nó. Trên broadcast network, Drother chỉ là adjacency với DR và BDR. Do đó update packet được tới DR và BDR với địa chỉ là 224.0.0.6. Sau đó chỉ có DR router gửi update dưới dạng multicast với địa chỉ 224.0.0.5 tới tất cả các DRother router. Tiếp đó các DR, BDR router, DRother router flood LSA ra tất cả các interface còn lại.
Trên mạng NBMA network (full), quá trình trên cũng tương tự như vậy trừ điểm sau là các LSA được gửi dưới dạng unicast.
Mỗi một LSA riêng lẻ được truyền đều phải được báo nhận. Điều này được thực hiện bằng một trong các cách sau:
Implicit acknowledgment: neighbor thực hiện báo nhận cho một LSA bằng cách gửi lại một Link State Acknowledgement về nơi gửi.
Implicit acknowledgement: neighbor thực hiện báo nhận cho một lSA bằng cách gửi một copy của LSA về cho nơi gửi.
admin
20-10-2005, 12:18 PM
OSPF LSA Details
Chúng ta sẽ khảo sát chi tiết từng loại LSA , và chủ yếu là 6 loại LSA sau đây :
1 . Type 1 : Router LSA : mô tả trạng thái , cost của link kết nối tới neighbor và ip prefix của link đó .
2 . Type 2 : Network LSA : mô tả số lượng router attach và segment cũng như là subnetmask của segment đó .
3 . Type 3 : Summary network : mô tả thông tin tóm tắt của một area cho các area khác trong cùng một OSPF domain và ngược lại .
4 . Type 4 : Summary ASBR : mô tả thông tin về ASBR . Trong một single area thì sẽ không tồn tại type 4 LSA . Chỉ khi nào OSPF domain gồm multiple area và có kết nối với AS khác thì lúc đó mới xuất hiện type 4 .
5 . Type 5 : External : mô tả thông tin về các route ở bên ngoài 1 ospf domain .
6. Type 7 : NSSA : cũng là external route nhưng có format gần giống với type 5.
<O:p</O:p
Mối LSA packet đều có 20 bytes LSA header có format như sau :
- LS Age : cho biết thời gian tạo ra LSA này . Max age của LSA là 3600s , refesh time là 1800s . Nếu LS age đạt tới 3000s thì LSA này mất giá trị và bị remove ra khỏi database .
- Options : tương tự như options field trong hello packets .
- LS type : chỉ ra đây là loại LSA nào ( type 1 , type 2 or type 3 …)
- Link-State ID : chỉ ra phần network được mô tả bởi LSA . Field này thay đổi tùy theo loại LSA .
- Advertising router : Router ID của router tạo ra LSA .
- LS sequence number : dùng để phát hiện ra LSA đã cũ hoặc bị trùng lắp .
- LS checksum : kiểm lỗi cho LSA packet .
- Length : độ dài bao nhiêu bytes của LSA packet , bao gồm cả LSA header .
(hoanglenhan@vnpro.org)
admin
20-10-2005, 03:58 PM
Type 1 – Router LSA.
<O:p</O:p
Router LSA được tạo ra bởi mỗi router cho mỗi area mà router thuộc về . Packet này mô tả trạng thái của các link kết nối trực tiếp với router và thông tin này được flood đi trong phạm vi một area . Tất cả các link kết nối trực tiếp với router sẽ được mô tả bằng một gói LSA duy nhất .
- Bit V : Bit này được dùng khi router là endpoint của virtual link .
- Bit E : Bit này được dùng khi router là ASBR .
- Bit B : Bit này được dùng khi router là ABR .
- Number of links : chỉ ra số lượng các links kết nối với router .
- Link ID , Link Data , Type :
o Type : field này cho biết router link là loại gì ( có 4 loại router links , phân biệt bằng type field )
o Link ID và link Data : là giá trị 4 bytes ip address , tùy thuộc vào loại network type .
- Tos & Tos metric : type of service . Thường được set là 0 .
- Metric : cho biết OSPF cost của một link . Cost=10^8/BW . Cost có thể được modified dùng câu lệnh ip ospf cost ( mode interface ) ,
admin
21-10-2005, 01:00 PM
Type 2 – Network LSA DR tạo ra network LSA packet . Nếu không có DR ( point-to-point or point-to-multipoint network ) , thì sẽ không có type 2 LSA này . Network LSA mô tả tất cả những router attach vào network . Thông tin này được flood đi trong 1 area ( giống router LSA ) . Network LSA có 2 thành phần quan trọng :
- network mask : Chỉ ra network mask của transit link .
- Attached router : chỉ ra router ID của các router attach vào transit link này . Trong danh sách này cũng có DR.
Transit link ở đây là gì ? Là network link mà trên đó các router có thiết lập quan hệ neighbor và bầu chọn ra DR/BDR .
RouterA#show ip ospf database network 141.108.1.1
Routing Bit Set on this LSA LS age: 1169
Options: (No TOS-capability, DC) LS
Type: Network Links Link State ID: 141.108.1.1 (address of Designated Router) à ip address của DR . Advertising Router: 141.108.3.1 à RID của DR .
LS Seq Number: 80000002 Checksum: 0xC76E Length: 36 Network Mask: /24 Attached Router: 141.108.3.1
Attached Router: 141.108.1.21
Attached Router: 141.108.1.3
Có 2 thông tin quan trọng cần lưu ý : - Link state ID ở đây là ip address của DR - Advertising router ở đây là Router ID của DR
ducphuc233
10-04-2006, 02:22 PM
Sao mình không thấy cái topo nhỉ. Topo trong trang web không browse lên được, hỏi các bác tại sao vậy ?????
QUOTE=1''hpSky]Nhưng output đó là của OSPF1 trong tôpô sau:
http://vnpro.org/forum/files/topo.JPG
ADV router là OSPF router ID được router quảng bá chính là các Neighbor Router ID học được qua hello packs trong Area??
Khái niệm link count nghe mù mờ quá, router thì làm sao mà cấu hình được cho OSPF?? Có phải theo ý bác thì số interface được cấu hình cho OSPF trong một area nào đó là link count??
Trường Age, hay Age Timer, theo mặc định là 30phút, thể hiện chu kỳ sống của các LSA. Trong trường hợp này hai cái link ID 10.12.1.1 và 172.16.3.2 có các Age khác nhau có nghĩa chúng được cập nhật bởi các LSA khác nhau?? Nếu 10.12.1.1 là connected interface của OSPF1 thì nó xây dựng cái Age Timer ntn?
Cuối cùng, gửi mọi người file show ip ospf database trên OSPF1:
OSPF Router with ID (10.12.1.1) (Process ID 1)
Router Link States (Area 0)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum Link count
10.12.1.1 10.12.1.1 482 0x80000006 0x1C13 2
172.16.3.2 172.16.3.2 468 0x80000004 0xFD89 2
Summary Net Link States (Area 0)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum
192.168.0.0 10.12.1.1 695 0x80000001 0x743D
Router Link States (Area 1)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum Link count
10.12.1.1 10.12.1.1 704 0x80000004 0x3556 1
Summary Net Link States (Area 1)
Link ID ADV Router Age Seq# Checksum
172.16.3.0 10.12.1.1 705 0x80000001 0x8B9C
OSPF1#
Không hiểu với topo như trên mà lại xuất hiện địa chỉ 10.12.1.1 là cớ làm sao??[/QUOTE]
westcoast
04-06-2006, 05:42 PM
-Link count chính là số interface đang active trên Router
-ADV Router ở đây là Router ID dùng để quảng bá cho các Neighbor Router. Hay nói cách khác , ADV Router là chủ nhân của các LSA được gởi ra trên interface có địa chỉ như thế.
westcoast
04-06-2006, 05:48 PM
Nhưng số LInk count đôi khi lại không như bạn nghĩ . ví dụ trên Routẻ của bạn có 3 interface đang active như số link count ậi thể hiện là 4. có ai biết lý do tại sao không?
Im_Sam
31-08-2008, 04:56 PM
1 đường serial sẽ được tính thành 2 link count. Để hiểu rõ vì sao bạn thử dùng lệnh show ip ospf database router x.x.x.x (ip của router trong ospf).
longphi11
15-09-2008, 12:11 PM
cac bac cu lam cho moi thu them phuc tap len thoi.Neu chi dung lai o CCNA hoac cao hon la CCNP thi dau can den cac khai niem trong sach dua ra la on roi.Toi thay may bac o tren toan noi o dau dau day.Vua ko thuc te,vi` khi lam viec co dung may cai nay quai' dau ma tim hieu ky lam j.Lai vua lam cho moi thu them kho' hieu.Tot nhat la hieu ky cac khai niem co ban truoc di.Lam viec ngon lanh voi no.Roi phat trien tiep len.
Powered by vBulletin® Version 4.1.9 Copyright © 2012 vBulletin Solutions, Inc. All rights reserved.