PDA

View Full Version : Sự khó khăn trong lựa chọn và thực hiện mạng VoIP



thanhsang_truong
29-08-2006, 10:34 AM
Tác giả:
Bùi Nguyễn Hoàng Long
Thực hiện hổ trợ thoại trong mạng Enterprise
- Khi mà nhiều Enterprise có nhu cầu tích hợp những ứng dụng voice, video, audio, data vào cùng một cơ sở hạ tầng chung còn được gọi là mạng hội tụ (converged network) hay là mạng thế hệ kế tiếp.
- Một mạng hộu tụ, cho phép sự kết hợp thoại, dữ liệu và những sự truyền báo hiệu khác vào một giao tíếp mạng đơn, tốc độ cao, và phức tạp hơn đối với mạng truyền thống hoạt động độc lập như thoại và dữ liệu tách biệt. Bởi vì những khó khăn này, việc thiết kế, thực hiện, và kiếm tra trên cơ sở hạ tầng này, yêu cầu cần có sự quan tâm nghiêm túc để người dùng cuối có thể chấp nhận được chất lượng của dịch vụ.
- Quá trình thiết kế và thực hiện có thể chia làm 10 bước, bắt đầu với sự định nghĩa rõ ràng của những đối tượng trong mạng hội tụ và định nghĩa những ứng dụng mà mạng này hổ trợ. Trong suốt quá trình cần yêu cầu được ghi nhận lại của hệ thống. Kế họach cài đặt và kiểm tra cũng bao gồm kế hoạch kiểm tra tính tương thích của nhiều giữa những thành phần của nhiều hãng. Giai đoạn cài đặt nên được thử nghiệm trong phòng lab hay trên những phân đọan mạng mà được kiểm tra kỉ lưỡng cho sự vận chuyển tin cậy cho tất cả các ứng dụng:thoại, video, fax và dữ liệu qua cơ sở hạ tầng mạng hội tụ. Mỗi một hoạt động của chương trình thử nghiệm được hoàn thành , hệ thống phân cấp sau đó có thể được kiểm tra, triển khai, và ghi nhận lại.
- Hầu hết những người dùng cuối đều quen thuộc với những cuộc gọi qua PSTN và nhận thấy rằng tiến trình thiết lập và kết thúc cuộc gọi là tin cậy và nhanh chóng. Do đó mạng hội tụ cũng sẽ phải đáp ứng những yêu cầu tối thiểu đó. Tuy nhiên thực tế thì có rất nhiều yếu tố cỏ thế ảnh hưởng đến chất lượng của dịch vụ, bao gồm băng thông của những kênh giao tiếp, yếu tố về độ tải của mạng, tiếng vọng (echo) bên trong mạng, và độ trễ (delay).
Sự khó khăn trong lựa chọn và thực hiện mạng VoIP
- Những khó khăn xuất phát từ sự khác nhau giữa mạng thoại và dự liệu, thoại là mạng hướng kết nối, trong khi mạng dữ liệu là không hướng kết nối, do đó có hai mạng yêu cầu cách tiếp cận luồng thông tin cũng rất khác nhau. Ví dụ, mạng thoại thì được thiết kế với 99.999% độ tin cậy. Trong khi phần lớn các mạng dự liệu thì độ tin cậy không cao.
- Sự khác nhau còn là loại dịch vụ vận chuyển thông tin. Giao tiếp của con người thì rất nhạy cảm với độ trễ, cộng với nhưng sự thay đổi trong độ trể đó hay còn gọi là jitter. Bên trong mạng thoại, mạch giao tiếp thì được fixed, băng thông đựoc thiết lập và những tài nguyên khác thì được dành riêng cho trong suốt cuộc gọi, nhằm giảm tối thiểu độ trể và jitter. Ngoài ra, bất kỳ thông tin bị mất có thể được khôi phục bởi những người dùng cuối bằng cách yêu cầu người tham gia lặp lại cụm từ cuối. Trái lại, mạng chuyển gói (packet-switched) truyền thống không thiết lập đường đi end-to-end cố định mà thông qua tiến trình định tuyến (routing) trên từng gói. Độ trễ và jitter là một vấn đề không lớn, vì những thông điệp (message) lớn hầu như sẽ được chia thành nhiều gói tin nhỏ bên thiết bị truyền, và sau cùng sẽ đựoc sắp xếp lại ở bên thiết bị nhận. Hai tiến trình đó là vai trò quan trọng trong kiến trúc mạng chuyển gói. Tuy nhiên, nếu một trong số những gói trong trình tự này bị mất, thì thông điệp ban đầu không thể tái tạo lại và chuyển lên lớp ứng dụng, nói một cách khác, thông điệp ban đầu có thể tái tạo lại cho dù có một vài gói tin bị trễ nhưng sẽ không thể tái tạo nếu một trong số gói tin ban đầu bị mất.
- Thứ hai, phải có sự lựa chọn khi quyết định loại kiến trúc đựoc triển khai, có hai lọai chính và vài dạng lai khác. Kiến trúc đầu tiên dựa vào hệ thống chuyển mạch thoại được biết như là tổng đài chuyển mạch hay PBX. Kiến trúc này xuất phát từ kiến trúc thoại ban đầu của nó như là mạng PBX mà kết nối những người dùng cuối bên trong cùng công ty, hay sự liên kết giữa nhiều vị trí giữa những chi nhánh với lại trụ sở chính. Khi sự quan tâm đến tích hợp giao tiếp thoại và dữ liệu trong những tổ chức kinh doanh phát triển, những giao diện PBX, như là những kết nối hổ trợ fax và dữ liệu thì được thêm vào.
- Sự phát triển hợp lý kế tiếp là thêm những giao diện (interface) hổ trợ những mạng khác như là ISDN, Ethernet và IP. Cuối cùng, kiến trúc nội bộ thì đựoc chuyển từ mạng chuyển mạch sang mạng chuyên gói, mà cho phép những chức năng xử lý gói tin như là gateway and gatekeeper cùng tốn tại với những giao diện station và trunk. Và khi nhiểu giao diên thì tương thích với IP, thuật ngữ IP PBX ra đời.

http://usera.imagecave.com/5678/voiceip_hinh15.jpg
IP PBX-based Converged Network
- Những lựa chọn khác là kiến trúc dựa vào bộ định tuyến mà giảm nhẹ sự đầu tư cho những doanh nghiệp mà đã xây dựng mạng dữ liệu không tập trung (distributed). Rất ít sự cấu hình lại thì được yêu cầu để nâng cấp những bộ định tuyến với khả năng VoIP, như là tính năng quản lý giao thông (traffic) và chất lượng dịch vụ (QoS), chức năng truy cập và bảo mật và những yêu cầu xử lý VoIP khác. Chức năng quản lý và bảo mật thường được thực hiện trên một vùng, trong khi xử lý thoại thì được thực hiện ở cục bộ. Bộ định tuyến thì được đặt ở những nơi có mật độ traffic cao, ở đây traffic được kết hợp để vận chuyển tới những vị trí khác. Nếu định dạng của thoại và video ở dạng digital nó có thể được số hóa và vận chuyển qua mạng dự liệu với email, trang web…Những bộ xử lý ứng dụng đa phương tiện(multimedia) như là gatekeeper và gateway có thể kết nối vào mạng này như bất kỳ thiết bị hổ trợ IP khác.

http://usera.imagecave.com/5678/voiceip_hinh16.jpg
Router-based Converged Network